PDA

Xem bản đầy đủ : Thực tiễn thi hành Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”



TKTP&CNTT
08-05-2018, 09:06 AM
Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đây là quy định kế thừa và có sửa đổi so với Điều 202 Bộ luật hình sự 1999.
Nhìn một cách tổng thể, quy định tại Điều 260 BLHS 2015 đã có sự sửa đổi phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, chẳng hạn như:
Về chủ thể của tội phạm đã được mở rộng hơn, bao gồm tất cả những người tham gia giao thông đường bộ. Điều này phù hợp hơn với quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật giao thông đường bộ là “Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, người điều khiển, dẫn dắt súc vật, người đi bộ trên đường bộ”. Thực tế, không phải chỉ những người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có vi phạm, mà cả những chủ thể khác như người đi bộ khi tham gia giao thông cũng vi phạm quy định về an toàn giao thông dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Ngoài ra, dấu hiệu pháp lý của tội phạm về hậu quả xảy ra đã được quy định rõ ràng hơn. Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 chỉ quy định dấu hiệu về mặt hậu quả là “Thiệt hại nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng”. Quy định như vậy gây khó khăn, áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, việc quy định rõ ràng như Bộ luật hình sự 2015 sẽ tạo thuận lợi và thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, Điều 260 BLHS 2015 mặc dù quy định cụ thể hơn nhưng chưa quy định các trường hợp vi phạm quy định về tham gia giao thông gây hậu quả như:
+Một là: Làm chết 01 người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d khoản 1, cụ thể:
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
+ Hai là: Làm chết 01 người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm e, g khoản 2:
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
+ Ba là: Làm chết 02 người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b,c, d khoản 1:
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Tại mục 4 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 có hướng dẫn chi tiết các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Như vậy, những hành vi vi phạm xảy ra từ ngày 01/01/2018 gây hậu quả thuộc các trường hợp như trên thì sẽ xử lý theo khoản nào của Điều 260 BLHS 2015. Hiện tại, các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đang gặp lúng túng trong việc áp dụng, cần có sự hướng dẫn và bổ sung kịp thời.
Để chờ sự hướng dẫn thống nhất của Cơ quan có thẩm quyền, trước mắt để giải quyết được vụ án khi mà hậu quả do người phạm tội gây ra thuộc trường hợp trên, hiện tại có 02 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất:
Do Điều 260 BLHS 2015 chưa quy định, nên cần phải căn cứ mục 4 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để áp dụng tương tự. Tùy theo mức độ hậu quả xảy ra như "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" tương ứng với quy định tại Nghị Quyết 02/2003/NQ-HĐTP mà xem xét áp dụng khoản 2 hay khoản 3 Điều 260 BLHS năm 2015 để truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 để xử lý là cần thiết, nhằm đảm bảo xét xử toàn diện đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tránh bỏ lọt tội phạm.
Quan điểm thứ hai cho rằng (đây cũng là quan điểm của tác giả):
Điều 260 BLHS 2015 không quy định thì không thể áp dụng tương tự theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 để truy cứu trách nhiệm hình sự được. Bởi lẽ:
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Theo đó, chỉ có quy định tại Bộ luật hình sự hiện hành hoặc các Luật, Bộ luật có liên quan mới có thể được áp dụng để truy cứ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội mà hành vi của họ đã thực hiện sau ngày 01/01/2018.
- Cho nên cần phải áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, căn cứ vào hậu quả do người phạm tội gây ra, đối chiếu với quy định tại các khoản của Điều 260 BLHS năm 2015 để áp dụng truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Nguyễn Văn A điều khiển xe ô tô gây tai nạn, hậu quả làm anh Nguyễn Văn B là người điều khiển xe mô tô chết, chị Nguyễn Văn C ngồi sau xe mô tô bị thương tích với tỉ lệ thương tật 70% thì Nguyễn Văn A chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 260 BLHS không thể truy cứu trách nhiệm hình sự A theo khoản 2 Điều 260 BLHS. Vì tại khoản 2 Điều 260 BLHS chỉ điều chỉnh đối với hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe được quy định tại điểm đ và điểm e:
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%
.....
Do vậy, để có sự áp dụng pháp luật thống nhất, thiết nghỉ cần phải có hướng dẫn cụ thể.
Trần Thanh Thuận
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang