Vừa qua, VKSND huyện Cái Bè đã tiến hành họp rút kinh nghiệm, đóng góp ý kiến đối với phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử đối với bị cáo Hàng Thị Hồng Diễm phạm tội “Giết người”. Sau một buổi thảo luận đã ghi nhận nhiều ý kiến có giá trị tham khảo, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử cho tập thể cán bộ đơn vị. Trong đó, nổi bật lên ba vấn đề mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè còn nhiều quan điểm khác nhau cần nêu lên để bạn đọc nghiên cứu, trao đổi. Cụ thể:
1. Vấn đề thứ nhất, việc xác định tư cách tham gia tố tụng:
Hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta chưa quy định rõ việc xác định người đại diện theo pháp luật của người tham gia tố tụng hình sự trong trường hợp người tham gia tố tụng đã chết (trừ những trường hợp được quy định tại Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2015).
Cụ thể, trong vụ án này, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của hai con chung, chưa thành niên của bị cáo và người bị hại (cháu Trinh và cháu Nam) là người có quyền và nghĩa vụ liên quan chỉ dựa trên thực tế xét xử, kinh nghiệm và nhận định của mỗi thẩm phán, ngoài ra không có bất kỳ văn bản pháp lý nào hướng dẫn. Việc xác định không thống nhất, tùy nghi phát sinh nhiều vụ việc mà hậu quả pháp lý hoàn toàn khác biệt, thể hiện rõ nhất trong vụ án này nếu xác định hai con của bị hại, bị cáo là người đại diện theo pháp luật thì cháu Trinh và cháu Nam sẽ có quyền nêu ra yêu cầu về việc xét xử, mức hình phạt đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải bồi thường. Đồng thời, cháu Trinh và cháu Nam có quyền được thừa kế phần tài sản của bị hại để lại với mục đích bồi thường thay cho bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (thể hiện rõ ý chí này qua lời khai của anh Tâm). Việc xác định hai cháu là người có quyền và nghĩa vụ liên quan tước mất khả năng thực hiện quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại mà các cháu được hưởng. Đặc biệt, hai cháu là người bị tác động mạnh mẽ nhất từ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các cháu phải được trình bày suy nghĩ của bản thân về vụ án trong quá trình xét xử.
2. Vấn đề thứ hai, việc xác định tài sản chung - tài sản riêng:
Trong quá trình phân xác bị cáo có tháo 01 chiếc nhẫn trơn bằng vàng mà bị hại đang đeo bên tay phải với ý định giữ làm kỉ niệm. Sau khi tiến hành phân xác và đi vứt tại nhiều vị trí xung quanh khu vực phòng trọ, Diễm lấy và gửi nhiều tài sản cho cha ruột Diễm bảo quản gồm: 01 xe KymCo; 01 lượng vàng SJC; 01 dây chuyền vàng 05 chỉ, 02 ly; 01 dây khoen lật 04 chỉ 02 ly; 01 mặt phật bọc vàng; 01 nhẫn trơn bằng vàng, sau đó những tài sản này đều được Cơ quan điều tra tạm giữ phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án.
Theo lời khai của Diễm đây là tài sản chung của Diễm và anh Tú. Tuy nhiên, Cơ quan tiến hành tố tụng không làm rõ nguồn gốc tài sản là tài sản chung hay tài sản riêng của ai là thiếu sót. Bởi lẽ, Diễm và Tú chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn theo quy định thì tài sản tạo lập trong thời gian chung sống này không mặc nhiên được xem là tài sản chung của vợ chồng mà được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Việc không làm rõ nguồn gốc tài sản mà Cơ quan điều tra thu giữ có thể dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý nghiêm trọng. Cụ thể:
- Thứ nhất, việc này có thể bỏ lọt hành vi phạm tội, bởi lẽ theo quy định tại Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân gia đình thì tư trang cá nhân (bao gồm trang sức) là tài sản riêng của người chiếm hữu. Hành vi tháo chiếc nhẫn trơn bằng vàng mà bị hại đang đeo trên tay với mục đích chiếm hữu trái phéptrong khi bị hại đã tử vong có dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản;
- Thứ hai, bị cáo đồng ý dùng phần tài sản của bị cáo trong khối tài sản chung của bị hại để bồi thường, nhưng các cơ quan tố tụng chưa làm rõ nên không xác định được số tài sản này có giá trị bao nhiêu, từ đó xác định số tiền mà bị cáo có nghĩa vụ phải tiếp tục bồi thường; Đáng lẽ, việc này phải được giải quyết triệt để trong quá trình điều tra vụ án. Khi xác định được nguồn gốc tài sản, nếu tài sản này hoàn toàn là tài sản riêng của bị hại thì việc cho bị cáo được hưởng tình tiết tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ngược lại, nếu hoàn toàn là tài sản riêng của bị cáo thì việc này cũng dẫn đến việc áp dụng án phí cho bị cáo là không đúng. Trong trường hợp là tài sản chung thì phải làm rõ giá trị mỗi phần tài sản của bị cáo, bị hại là bao nhiêu để có căn cứ giải quyết phần dân sự của vụ án;
- Thứ ba, hai cháu Trinh và Nam là người thừa kế của anh Nam, việc không xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng còn dẫn đến hậu quả kéo dài vụ án khi chưa giải quyết triệt để phần dân sự của vụ án mà Hội đồng xét xử không nhận định tách phần dân sự ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác, chỉ nêu tạm giữ khối tài sản chung để thi hành án;
3.Vấn đề thứ ba, tình tiết tăng nặng “thực hiện tội phạm một cách man rợ” hay có hành vi cấu thành tội xâm phạm thi thể theo quy định tại Điều 319 Bộ luật hình sự:
Qua diễn biến phiên tòa, có thể xác định hành vi giết người của bị cáo Diễm đã kết thúc vào thời điểm Diễm phát hiện bị hại đã chết. Sau đó bị cáo tiến hành phân xác, theo quan điểm cá nhân người viết đây là hành vi cấu thành tội xâm phạm thi thể với mục đích che giấu hành vi giết người.
Tuy nhiên, có hai quan điểm trái chiều cụ thể như sau:
- Quan điểm thứ nhất: căn cứ, Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC/NQngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì: “Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…)”. Mặc dù, sau khi bị hại chết thì Diễm mới thực hiện hành vi phân xác nạn nhân, không gây đau đớn cao độ, khiếp sợ đối với nạn nhân nhưng lại gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội nên vẫn áp dụng tình tiết định khung này để truy tố bị cáo theo điểm i, khoản 1 Điều 123 BLHS.
- Quan điểm thứ hai: Các tình tiết được hướng dẫn tại Nghị quyết 04 chỉ được áp dụng trước khi hành vi phạm tội hoàn thành. Sau khi tội phạm đã hoàn thành thì phải cấu thành hành vi phạm tội khác. Việc áp dụng chồng chéo sẽ dẫn đến khó khăn trong việc xác định đồng phạm (nếu có).
Ví dụ: A và B cùng nhau giết C. A lo sợ bỏ trốn, B ở lại phân xác C để che giấu hành vi phạm tội. Như vậy cùng một hành vi giết C, do A cùng B cùng thực hiện thì sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A, B như thế nào. Nếu xét theo quan điểm thứ nhất, trong trường hợp A không biết việc B phân xác C thì A có phải chịu tình tiết tăng nặng do hành vi thái quá của B gây ra hay không;
Trên đây là vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong tập thể cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè khi rút kinh nghiệm vụ án Hàng Thị Hồng Diễm phạm tội “Giết người”, rất mong Quý bạn đọc, Quý đồng nghiệp trao đổi.
Thành Nam