Bản án số 67/2017/DSST, ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện N xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà A về việc yêu cầu ông M, bà M, anh L, chị X phải liên đới trả số tiền 300.000.000 đồng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng bởi những lẽ sau:
Vào ngày 15/10/2012, tại Phòng công chứng số 3, tỉnh Tiền Giang ông M, bà M, anh L, chị X - gọi tắt là bên A, ký hợp đồng uỷ quyền cho anh S được quyền thay mặt cầm cố, thế chấp phần đất 8.489m2 để đi vay tiền. Qua xem xét hợp đồng uỷ quyền này thì anh S được quyền thế chấp phần đất nêu trên cho bất kỳ ai để vay tiền nhưng không được vượt quá giá trị tài sản được uỷ quyền và trong trường hợp anh S không trả được nợ cho bên nhận thế chấp thì bên A đồng ý cho bên nhận thế chấp xử lý các thửa đất trên để thanh toán nợ. Như vậy, với quy định của hợp đồng uỷ quyền này, về bản chất anh S là người có quyền chọn người cho thế chấp tài sản để vay tiền và trong trường hợp anh S không trả được nợ thì bên A đồng ý cho bên nhận thế chấp xử lý các thửa đất trên để thanh toán nợ. Thực tế là sau khi nhận uỷ quyền, ngày 16/10/2012 tại Phòng công chứng số 3, tỉnh Tiền Giang cá nhân anh S ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho bà A để vay số tiền 300.000.000 đồng. Hợp đồng thế chấp này chỉ có anh S, bà A ký và khi nhận tiền cũng chỉ có một mình anh S ký. Điều này chứng tỏ ông M, bà M, anh L, chị X không trực tiếp giao dịch vay tiền của bà A. Theo đơn khởi kiện bà A cho rằng ông M, bà M, anh L, chị X là những người trực tiếp vay tiền của bà là không đúng. Do đó, việc TAND huyện N thụ lý đơn khởi kiện của bà A xác định ông M, bà M, anh L, chị X là bị đơn trong vụ án này là không đúng đối tượng, vi phạm Khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS).
Bên cạnh đó, theo khoản 1, Điều 2 của hợp đồng uỷ quyền ngày 15/10/2012 ký giữa ông M, bà M, anh L, chị X – gọi tắt là bên A, với anh S – gọi tắt là bên B các bên đã xác lập phạm vi của việc uỷ quyền như sau: “Bên A, đồng ý uỷ quyền cho bên B thay mặt, nhân danh bên A ký các hợp đồng thế chấp… đối với các thửa đất nêu trên…Trong trường hợp thế chấp mà không trả được nợ cho bên nhận thế chấp, bên A đồng ý để cho bên nhận thế chấp được xử lý các thửa đất thế chấp nêu trên để thu hồi vốn…”. Với quy định này của hợp đồng uỷ quyền ngày 15/10/2012 cho thấy bên phía ông M, bà M, anh L, chị X chỉ đồng ý thanh lý tài sản của mình với điều kiện anh S không trả nợ được cho bên nhận thế chấp. Điều này đồng nghĩa với việc trước hết bà A phải khởi kiện anh S bằng vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Đồng thời, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của ông M, bà M, anh L, chị X được quy định tại khoản 1, Điều 2 của Hợp đồng uỷ quyền ngày 15/10/2012 thì TAND huyện N phải đưa ông M, bà M, anh L, chị M tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng TAND huyện N sau khi thụ lý vụ án lại xác định ông M, bà M, anh L, chị X là bị đơn trong vụ án này anh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi chính đáng, hợp pháp của ông M, bà M, anh L, chị X.
Do bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật, phía ông M, bà M, anh L, chị X có đơn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tại Tiền Giang cần căn cứ khoản 2, Điều 327 Bộ luật TTDS thông báo đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.


Trương Văn Hòa-VKSND tỉnh Tiền Giang