Thế chấp tài sản trong giao dịch dân sự là một trong chín biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được Bộ luật dân sự (BLDS) quy định. Theo đó, thế chấp được hiểu là một bên dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để giao cho bên kia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự. BLDS 2015 quy định thế chấp tài sản từ Điều 317 đến Điều 327. Chế định về thế chấp tài sản trong BLDS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng đề cao nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền nghĩa vụ của bên thế chấp cũng như bên nhận thế chấp.
Chế định thế chấp tài sản trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 có những sửa đổi bổ sung thế nào?
Vấn đề thứ nhất: Điều 318, BLDS 2015 quy định bổ sung điều khoản loại trừ trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ. Theo đó, trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Ví dụ: Ông A có quyền sử dụng đất (QSDĐ) là 1000m2, trên đất có căn nhà, cây trồng lâu năm… nhưng nhà không có chủ quyền. Trong trường hợp này đối tượng chính của hợp đồng thế chấp là QSDĐ, còn nhà, cây trồng trên đất được xem là vật phụ của phần đất 1000m2. Trong trường hợp giữa ông A với bên nhận thế chấp không có thoả thuận khác, việc thế chấp ở đây là toàn bộ phần đất nêu trên thì nhà, cây trồng trên đất trong giao dịch này cũng thuộc tài sản thế chấp. So với BLDS 2005 thì chế định thế chấp vừa nêu của BLDS 2015 đã có sự khác biệt rõ rệt, vì BLDS 2005 quy định chỉ khi có thỏa thuận tài sản gắn liền với đất mới được xem là tài sản thế chấp. Như vậy, nếu theo BLDS 2005 với ví dụ vừa nêu thì toàn bộ phần đất 1000m2 nêu trên của ông A được đem ra thế chấp thì căn nhà, cây trồng trên đất chỉ được xem là vật phụ thuộc tài sản thế chấp khi giữa ông A và bên nhận thế chấp có thoả thuận đồng ý đưa căn nhà, cây trồng trên đất vào hợp đồng thế chấp.
Vấn đề thứ hai: Quyền của bên thế chấp: Điều 321 BLDS 2015 đã bổ sung một số quyền của bên thế chấp tài sản, gồm: Nhận lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp; Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng, bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận khi thực hiện giao dịch ban đầu.
Đối với nghĩa vụ của bên nhận thế chấp: Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định pháp luật, bãi bỏ quy định yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký trong các trường hợp xử lý, hủy bỏ, chấm dứt tài sản thế chấp.
Vấn đề thứ ba: Quyền của bên nhận thế chấp: BLDS 2015 bổ sung quyền đối với bên nhận thế chấp như: Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật; Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác. Tuy nhiên, đối với trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất, người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình, quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trên đây là những điểm mới về thế chấp tài sản được quy định tại BLDS năm 2015.
Trương Văn Hòa-VKSND tỉnh Tiền Giang