1. Đặt vấn đề
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực ngày 01/7/2013, tuy nhiên nội dung có liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định có liệu lực từ ngày 01/01/2014. Đây là bước chuyển từ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh trước đây chuyển giao sang Tòa án nhân dân để thực hiện quyền tư pháp theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013. Trên cơ sở đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 (sau đây gọi là Pháp lệnh 09) quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh này bao gồm các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân; trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc hoãn, miễn chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đối với ngành kiểm sát nhân dân, tại Điều 4 của Pháp lệnh 09 đã quy định chức năng kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Ngày 06/02/2015 Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Hướng dẫn 27/HD-VKSTC-V12 về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ nghiên cứu “Kỹ năng kiểm sát việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, vì đây là biện pháp xử lý tại tòa phổ biến nhất đối với Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay mà Viện kiểm sát cùng cấp có tham gia.
2. Trình tự kiểm sát biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
2.1. Kiểm sát thụ lý vụ việc:
- Thời hạn Tòa án thụ lý: Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của Cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, Tòa án phải vào sổ giao nhận và phải thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thụ lý, Tòa án phải thông báo việc thụ lý cho Viện kiểm sát, Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị (khoản 2 Điều 8; khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh 09).
- Kiểm sát nội dung thông báo thụ lý: Thông báo thụ lý phải có các nội dung như: Ngày tháng năm làm văn bản thông báo; Tên Tòa án đã thụ lý hồ sơ; Tên Cơ quan đề nghị; Họ và tên, địa chỉ của người bị đề nghị; Biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng …. (khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh 09) và thông báo này phải đúng mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân (sau đây gọi là Nghị quyết 04).
- Thẩm quyền thụ lý: Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở (khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh 09).
2.2. Kiểm sát quyết định mở phiên họp
Sau khi Viện kiểm sát nhận được quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân thì Kiểm sát viên cần kiểm sát các nội dung sau:
- Thời hạn ra quyết định: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Thẩm phán được phân công trong việc xử lý hồ sơ, Thẩm phán phải quyết định về một trong các nội dung sau: Yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ; Đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09).
- Hình thức phải theo đúng mẫu số 03 của Nghị quyết 04.
- Nội dung quyết định mở phiên họp: Nội dung quyết định phải có: Họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của người bị đề nghị; Tên cơ quan đề nghị, biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng; Ngày tháng năm địa điểm mở phiên họp; Họ tên Thẩm phán, Thư ký, những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp (Điều 16 Pháp lệnh 09). Thời hạn mở phiên họp là 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Thời hạn gửi quyết định cho Viện kiểm sát chậm nhất là 03 ngày làm việc trước khi mở phiên họp.
- Kiểm sát việc tống đạt quyết định mở phiên họp cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trình tự thủ tục thực hiện theo Điều 1 Nghị quyết 04.
2.3. Nghiên cứu hồ sơ:
Pháp lệnh 09 không quy định về việc Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để nghiên cứu mà chỉ quy định Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án đã thụ lý vụ việc sau khi nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án. Do vậy, sau khi được lãnh đạo phân công, Kiểm sát viên phải chủ động nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên họp cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau đây:
- Đối tượng áp dụng: Được quy định tại Điều 1 Nghị định 136 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 (sau đây gọi là Nghị định 136); Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.
+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.
Đặc biệt chú ý, không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:
+ Người không có năng lực trách nhiệm hành chính (khoản 15 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính);
+ Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;
+ Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
- Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản theo quy định tại Điều 8 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là Nghị định 221); khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 04; điểm d khoản 2 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, có 03 trường hợp như sau:
Thứ nhất, đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi người đó cư trú lập, hồ sơ gồm:
+ Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Bản tường trình của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ;
+ Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc phiếu xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy tại thời điểm lập hồ sơ;
+ Bản sao giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 221 hoặc bản sao Quyết định chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 221; Điều 10 Quyết định số 1959/QĐ-UBND ngày 06/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (sau đây gọi là Quyết định 1959); Điều 1 Nghị định 136; điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính).
Thứ hai, đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hồ sơ gồm:
+ Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Bản tường trình của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ;
+ Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc phiếu xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy tại thời điểm lập hồ sơ;
+ Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định 221 về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Tài liệu xác định người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định (Điều 13 Quyết định 1959; Điều 1 Nghị định 136; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính).
Công an cấp xã, phường có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị đối với 02 đối tượng này (điểm c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính).
Riêng đối với địa bàn tỉnh Tiền Giang, Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn điều trị nghiện ma túy thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang chịu trách nhiệm tiếp nhận, quản lý người nghiện không có nơi cư trú ổn định trong thời gian chờ lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc. Do đó, người nghiện ma túy bị phát hiện, bắt giữ trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhưng không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian chờ lập hồ sơ được đưa vào Khu Xã hội thuộc Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn điều trị nghiện ma túy (Điều 9 Quyết định 1959).
Thứ ba, trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó (Khoản 2 Điều 8 Nghị định 221).
Lưu ý: Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác (Khoản 3 Điều 1 Nghị định 136; Điều 3 Thông tư số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09/7/2015 của Bộ y tế - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Bộ Công an quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy).
- Thông báo về việc lập hồ sơ: Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo để họ được quyền phát biểu ý kiến về việc lập hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện khi tham gia phiên họp sau này (Điều 11 Nghị định 221).
- Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ: Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc xong hồ sơ thì cơ quan lập hồ sơ gửi Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và có văn bản gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp (Điều 12 Nghị định 221; Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính).
- Xem xét, quyết định chuyển hồ sơ: Trong hạn 07 ngày sau khi nhận hồ sơ của Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng phòng Lao động thương binh xã hội cấp huyện đối chiếu hồ sơ với nội dung kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp. Nếu đầy đủ có văn bản đề nghị Tòa án cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 13 Nghị định 221; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính).
2.4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật và Kiểm sát viên tham gia phiên họp
- Kiểm sát thành phần phiên họp: Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp có đúng với Quyết định mở phiên họp không; Kiểm sát người tiến hành phiên họp có thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi theo Điều 10 Pháp lệnh 09.
- Người tham gia phiên họp phải có mặt tại phiên họp, trường hợp người đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp. Trường hợp người bị đề nghị vắng mặt có lý do chính đáng thì có thể hoãn phiên họp. Nếu không có lý do chính đáng hoặc yêu cầu xem xét vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp. Thời hạn hoãn phiên họp không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo hoãn. Tòa án phải thông báo cho những người tham gia phiên họp về việc hoãn và lý do hoãn, thời gian mở lại phiên họp. Những người vắng mặt tại phiên họp thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản (Điều 17, 18, 19 Pháp lệnh 09).
- Kiểm sát về trình tự thủ tục tiến hành phiên họp:
+ Trước khi khai mạc phiên họp, thư ký phiên họp phải phổ biến nội quy phiên họp, kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án yêu cầu có mặt tại phiên họp.
+ Trình tự, thủ tục tại phiên họp được tiến hành theo các bước sau: Thẩm phán tuyên bố khai mạc phiên họp, giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp; Đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị; người bị đề nghị trình bày ý kiến; đại diện cơ quan đề nghị và người bị đề nghị tranh luận về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
+ Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ý kiến của Viện kiểm sát về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 7 Nghị quyết số 04; Bản phát biểu thực hiện theo mẫu số 03 Pháp lệnh 09).
+ Thẩm phán Chủ tọa phiên họp công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định biện pháp này.
+ Kiểm tra biên bản phiên họp: Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên thực hiện việc kiểm tra biên bản phiên họp xem nội dung biên bản phiên họp có đúng với nội dung, diễn biến phiên họp, quyết định của Thẩm phán (Điều 19, 20 Pháp lệnh 09).
+ Sau phiên họp, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả phiên họp cho Lãnh đạo Viện phụ trách (theo mẫu số 07 Pháp lệnh 09).
- Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 đến 24 tháng. Hiện luật chưa có quy định cụ thể để làm căn cứ áp dụng, tuy nhiên trong quá trình thực hiện thường xét về nhân thân của đối tượng để làm căn cứ áp dụng thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính).
2.5. Kiểm sát các quyết định
- Đối với văn bản yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ của Tòa án:
+ Hình thức phải đúng mẫu số 02 của Nghị quyết 04.
+ Kiểm sát viên cần tập xem xét những nội dung Tòa án yêu cầu và lý do của việc cần bổ sung (tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân chưa rõ hoặc có mâu thuẫn; hoặc phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính). Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan được yêu cầu phải gửi tài liệu chứng cứ bổ sung cho Tòa án. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung hoặc kể từ ngày hết thời hạn quy định (02 ngày) mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung tài liệu, chứng cứ, Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 14 Pháp lệnh 09).
- Đối với Quyết định đình chỉ: Căn cứ để đình chỉ gồm: Hết thời hiện áp dụng; người bị đề nghị chết; Cơ quan đề nghị rút đề nghị; Người bị đề nghị đã có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Người bị đề nghị đang chấp hành hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Người bị đề nghị không thuộc đối tượng bị áp dụng của Luật xử lý vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh 09).
- Đối với Quyết định tạm đình chỉ: Căn cứ tạm đình chỉ gồm: Hành vi của người bị đề nghị có dấu hiệu tội phạm và Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Cơ quan có thẩm quyền để xem xét xử lý; có tình tiết mới về tình trạng sức khỏe của người bị đề nghị và cần phải yêu cầu cơ quan đề nghị tiến hành trưng cầu giám định; người bị đề nghị đang bị bệnh hiểm nghèo có xác nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên (khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh 09).
- Đối với quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
+ Hình thức theo mẫu số 09 của Nghị quyết 04.
+ Nội dung của quyết định: Phải thể hiện số, ngày, tháng, năm ra quyết định; Tên Tòa án ra quyết định; Họ tên Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị; Biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng; Lý do, căn cứ ra quyết định, thời hạn áp dụng biện; Trách nhiệm của cá nhân cơ quan tổ chức thi hành quyết định; Quyền khiếu nại; quyền kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định (Điều 22 Pháp lệnh 09).
- Hiệu lực của các quyết định: Quyết định áp dụng, không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; quyết định đình chỉ; tạm đình chỉ có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn theo quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh 09 mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Thời hạn gửi các quyết định:
+ Đối với quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, Tòa án phải gửi cho người được quy định tại Điều 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Viện kiểm sát cùng cấp.
+ Đối với quyết định định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, Tòa án phải gửi quyết cho cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, những người có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp (Điều 24 Pháp lệnh 09).
- Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật (Điều 30 Pháp lệnh 09).
Lưu ý: Quyền kiến nghị trong quyết định phải là cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh và Xã hội.
- Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
+ Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp họ vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Trường hợp ốm đau, thiên tai, địch họa hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hạn khiếu nại.
+ Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (Điều 23, 31 Pháp lệnh 09).
Do quyết định đình chỉ; tạm đình chỉ; quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có hiệu lực sau 03 ngày kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. Vì vậy, Kiểm sát viên cần chú ý kiểm sát nội dung các quyết định để kịp thời phát hiện vi phạm báo cáo, đề xuất Lãnh đạo Viện biện pháp xử lý.
3. Các quy định khác liên quan đến việc áp biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trong quá trình kiểm sát việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thấy có một số nội dung có liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự và kiểm sát thi hành án hình sự. Do vậy, cũng cần thiết trao đổi thêm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài để đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát những công việc trên thường gặp phải thực hiện đúng.
3.1. Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ra khỏi nơi chấp hành theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
- Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ra khỏi nơi chấp hành để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó.
- Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó (Điều 115 Luật xử lý vi phạm hành chính).
3.2. Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự
- Khi xem xét hồ sơ của đối tượng đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
- Đối với trường hợp đã ra quyết định áp dụng, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải huỷ quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
- Trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì thời hạn đối tượng đã chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính bằng 01 ngày chấp hành hình phạt tù (Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính).
3.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trường hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính).
3.4. Xử lý trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục bắt buộc thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.
- Trong giai đoạn cắt cơn, phục hồi, đối tượng đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu có hành vi vi phạm các quy định tại Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính (đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc) thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Điều 118 Luật xử lý vi phạm hành chính).
Trên cở sở các quy định pháp luật, tác giả đã hệ thống lại theo trình tự giúp cho cán bộ, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát loại việc này tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ được dễ dàng, nhanh chóng. Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong được sự đóng góp, trao đổi của quý đồng nghiệp
Tống Nhân-VKSND thành phố Mỹ Tho