1. Sự cần thiết của Hòa giải thương mại

Hiện nay, thế giới đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế theo chiều sâu lẫn chiều rộng. Sự phát triển kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, lượng hàng hóa giao thương diễn ra rất lớn. Cùng với đó là các hợp đồng mua bán hàng hóa cũng tăng lên, đi kèm là các tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng phát sinh. Vì thế, để đảm bảo tốt cho mối quan hệ trong kinh doanh cũng như tối ưu hóa lợi ích, tiết kiệm chi phí, tranh chấp phát sinh được các bên lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất. Trong thực tế, phương thức giải quyết tranh chấp được lựa chọn giải quyết là: thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án. Hiện nay, hòa giải được nhiều quốc gia đang áp dụng vì những hiệu quả kinh tế mang lại nhất là việc làm giảm thiểu các trường hợp tranh chấp chấm dứt quan hệ thương mại do hậu quả của tranh chấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc quản lý hoạt động kinh doanh, tiết kiệm chi phí trong giải quyết tranh chấp.
Tính tới thời điểm hiện tại, phần lớn các tranh chấp thương mại ở Việt Nam được giải quyết bằng phương thức tố tụng Tòa án. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài dù có được sử dụng, nhưng còn hạn chế trong tổng số tranh chấp thương mại. Hòa giải thương mại cũng đã được các bên tranh chấp lựa chọn nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng rất thấp.
Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như các Hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư, Hiệp định thương mại song phương và đa phương cũng quy định hòa giải là một trong các biện pháp cần được ưu tiên khi giải quyết các tranh chấp phát sinh. Cam kết về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới cũng bao gồm cam kết đối với dịch vụ hòa giải thương mại. Trong pháp luật quốc gia, phương thức hòa giải mới chỉ được ghi nhận rất sơ lược trong các văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Trọng tài thương mại. Luật Hòa giải cơ sở năm 2013, hình thức hòa giải cộng đồng được đề cập trong các văn bản pháp luật này không thực sự gắn kết với hoạt động thương mại, mà việc hòa giải – được tiến hành thông qua Tổ hòa giải và hòa giải viên – chỉ nhằm giúp giải quyết các tranh chấp nhỏ phát sinh liên quan đến đời sống hàng ngày ở các khu dân cư. Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đang đặt ra yêu cầu đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án và Trọng tài để giảm tải gánh nặng cho hệ thống Tòa án, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và ổn định, góp phần phát triển kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mạilàhoàn toàn phù hợp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã thể hiện chủ trương “Khuyến khích giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, Trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó[1].
Năm 2015, Chính phủ xây dựng dự thảo Nghị định về hòa giải thương mại. Ngày 24/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại (sau đây gọi là Nghị định về hòa giải thương mại), có hiệu lực thi hành vào ngày 15/4/2017. Theo đó, việc thành lập và hoạt động của các tổ chức hòa giải thương mại được chính thức quy định và hình thành trên thực tế. Nghị định quy định: Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của nghị định này. Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại bao gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
Từ đây có thể thấy rằng, cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì đòi hỏi phải nội luật hóa một số quy định quốc tế trở nên hết sức cấp bách trong “thế giới phẳng” và chúng ta không thể “một mình một chợ”, đòi hỏi phải xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để đáp ứng theo kịp sự phát triển kinh nếu không xây dựng kịp thời thì đó là lực cản đối với sự phát triển kinh tế.

  1. Khái niệm Hòa giải

Trong Từ điển luật học của Black, hòa giải là: Sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập). Từ điển Luật học của Pháp định nghĩa “Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung gian thứ ba (hòa giải viên thương mại) để giúp đưa ra các đề nghị giải quyết một cách thân thiện”.[2]
Hòa giải là công cụ để giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, đồng thời gìn giữ được các mối quan hệ kinh doanh (đặc biệt là khi các tranh chấp đòi hỏi những giải pháp dựa trên lợi ích kinh doanh vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý).[3]
Hòa giải là sự tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua trung gian của người khác.Hòa giải thành thì giữ được sự đoàn kết của các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém, và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự.[4]
Hòa giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng giữa các bên đã không đạt được kết quả.[5]
Theo Điều 1(3) Luật mẫu của Ủy ban pháp luật và Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: Hòa giải là một thủ tục được gọi bằng cụm từ hòa giải, trung gian hay hay một cụm từ khác có ý nghĩa tương đương, trong đó các bên yêu cầu một bên thứ ba (hòa giải viên) hỗ trợ mình trong nỗ lực giải quyết theo thỏa thuận tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng hoặc tranh chấp gắn với quan hệ pháp luật đó. Hòa giải viên không có quyền áp đặt giải pháp giải quyết tranh chấp cho các bên.[6]
Như vậy, hòa giải được hiểu là phương pháp để giải quyết tranh chấp, là quá trình mà tại đó hòa giải viên tạo điều kiện giao tiếp, đàm phán giữa các bên để hỗ trợ các bên tự nguyện đạt được một thỏa thuận. Trong quá trình hòa giải, vai trò của hòa giải viên là bên thứ ba trung lập, không can thiệp sâu vào những mâu thuẫn bất đồng của các bên. Hòa giải viên chỉ dừng lại ở việc khuyến khích, trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu.
3. Các hình thức Hòa giải
Có thể thấy, hòa giải chỉ đặt ra đối với những bất đồng, tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật được hình thành trên sự bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận của các bên. Do đó, hòa giải ngày càng có vai trò quan trọng trong quan hệ dân sự cũng như quan hệ hình sự trong việc miễn trách nhiệm hình sự. Trên thực tế tồn tại hai hình thức hòa giải là hòa giải trong tố tụng (Tòa án và Trọng tài) và hòa giải ngoài tố tụng (hòa giải thương mại, hòa giải cơ sở…).
* Hòa giải trong tố tụng là khi các bên tranh chấp ra hòa giải ở Tòa án hay Trọng tài và hòa giải viên là thẩm phán hay Trọng tài viên. Trong trường hợp hòa giải không thành thì tranh chấp sẽ được giải quyết ngay ở Tòa án hay ở cơ quan Trọng tài đó.[7]
* Hòa giải ngoài tố tụng là loại hình hòa giải do các bên tự tiến hành có sự tham gia của người thứ ba gọi là hòa giải viên, không có sự tham gia của Tòa án hay Trọng tài. Hòa giải viên là bất kỳ một người nào đó có uy tín trong lĩnh vực liên quan đến tính chất của tranh chấp do các bên lựa chọn. Nghĩa vụ của hòa giải viên là đưa ra lời khuyên cho các bên, thuyết phục các bên tìm ra phương pháp giải quyết tranh chấp một cách thân thiện.[8]Như vậy, hòa giải ngoài tố tụng là hòa giải được các bên tiến hành trước khi đưa vụ án tranh chấp ra cơ quan tư pháp. Có nhiều hình thức hòa giải ngoài tố tụng như: hòa giải tranh chấp lao động; hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; hòa giải ở cơ sở, hòa giải thương mại...
4.Hòa giải thương mại là gì
Theo quy định của Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc, thì hòa giải là một thủ tục được gọi bằng cụm từ hòa giải, trung gian hay một cụm từ khác có nghĩa tương đương, trong đó các bên yêu cầu một bên thứ ba (“hòa giải viên”) hỗ trợ mình trong nỗ lực giải quyết theo thỏa thuận tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng hoặc tranh chấp gắn với quan hệ pháp luật đó. Hòa giải viên không có quyền áp đặt giải pháp giải quyết tranh chấp cho các bên.[9]
Theo pháp luật Việt Nam, hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp.[10]
Các hình thứ hòa giải theo pháp luật Việt Nam là:
Hòa giải thương mại theo quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một tổ chức hòa giải thương mại theo quy định của pháp luật và quy tắc hòa giải của tổ chức đó.[11]
Hòa giải thương mại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại vụ việc được các bên lựa chọn tiến hành theo quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên.[12]
5. Nguyên tắc hòa giải thương mại
Cũng như bất cứ văn bản pháp luật nào cũng được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định thì Nghị định về hòa giải thương mại cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại được quy định cụ thể như sau:
Các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
Nội dung thỏa thuận hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm đến quyền lợi của bên thứ ba.[13]
Từ quy định về nguyên tắc cơ bản của hòa giải thương mại, thấy rằng:
Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên.Điều này có nghĩa là, các bên tham gia vào quá trình hòa giải trên tinh thần tự nguyện, không bên nào có thể ép buộc bên nào tham gia vào phương thức này.Sự tự nguyện còn được thể hiện ở việc các bên có thể quyết định hoàn toàn trong quá trình hòa giải.Về nguyên tắc, sau khi được các bên lựa chọn, hòa giải viên sẽ gợi ý và hướng dẫn các bên về quy trình thủ tục hòa giải mà hòa giải viên dự định tiến hành.Tuy nhiên, các bên có quyền đề xuất với hòa giải viên những thay đổi cần thiết cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình. Cuối cùng, các bên hoàn toàn quyết định về việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp, hòa giải viên không có quyền xét xử hoặc ra phán quyết mà kết quả giải quyết vụ tranh chấp phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Tùy thuộc cách thức hòa giải và phong cách mà từng hòa giải viên áp dụng, hòa giải viên có thể cung cấp những nhận định, đánh giá về nội dung vụ tranh chấp cũng như ý kiến tư vấn về cách thức giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những nhận định và ý kiến của hòa giải viên chỉ có tính chất tham khảo và không có tính chất ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Việc các bên có đi đến thỏa thuận hòa giải hay không và nội dung của thỏa thuận đó sẽ do các bên tự quyết định.
Thứ hai, nguyên tắc về tính bảo mật thông tinđược quy định làcác thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
Theo quy định pháp luật, các thông tin liên quan đến quá trình hòa giải phải giữ bí mật. Điều này có thể hiểu là, khi tham gia vào quá trình hòa giải các bên phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin có được trong quá trình hòa giải. Như vậy, bảo mật ở đây hiểu là:
Các bên tham gia hòa giải có nghĩa vụ bảo mật thông tin. Ở đây, nghị định chưa nói rõ “các bên” là những ai? Nếu “các bên” chỉ là các bên có tranh chấp thương mại phát sinh và cần hòa giải không bao gồm hòa giải viên. Nếu như hiểu như thế thì các bên có tranh chấp phát sinh phải tự giữ bí mật về thông tin có được trong quá trình hòa giải, không được tiết lộ trừ trường hợp có thỏa thuận bằng văn bản và pháp luật có quy định khác.
Trong thực tế, quá trình giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh bằng hòa giải, có sự hòa giải viên tham gia vào quá trình hòa giải thì bảo mật thông tin đặt ra như thế nào đối với hòa giải viên. Nghị định chỉ quy định ở quyền là hòa giải viên từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp và nghĩa vụ là bảo mật thông tin về vụ tranh chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận thành văn bản hoặc theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, thủ tục hòa giải không thể thiếu là các phiên họp riêng với từng bên, cho phép mỗi bên xử lý các vấn đề khó khăn, nhạy cảm cùng hòa giải viên được chọn.Tại mỗi phiên họp riêng, hòa giải viên sẽ hiểu sâu nhu cầu và lợi ích của mỗi bên và nhận định các tín hiệu có thể giúp tiến triển trong hòa giải.Với các thông tin riêng của bên nào chia sẻ với các hòa giải viên trong các cuộc gặp riêng thì không thể được chuyển cho bên khác nếu không được sự đồng ý của bên đã chia sẻ thông tin đó.
Điều này đặt trách nhiệm lên hòa giải viên phải bảo đảm tính bảo mật và phải xử lý mọi thông tin một cách rất cẩn trọng.Tiết lộ bí mật là không được phép và phá vỡ niềm tin đối với các bên và thậm chí có thể chấm dứt việc hòa giải. Hòa giải viên để tránh vi phạm nghĩa vụ bảo mật khi cung cấp thông tin có được từ phiên họp riêng thường bằng cách đặt câu hỏi đối với mỗi bên đã tiết lộ thông tin như: hỏi bên đã tiết lộ thông tin về những gì trong phiên họp riêng có thể được tiết lộ cho bên còn lại; chủ động xác định những thông tin cụ thể có thể giúp ích cho tiến trình hòa giải khi chuyển cho bên kia và đề nghị cho phép tiết lộ thông tin đó vào thời điểm thích hợp.
Trên thực tiễn, một số bên tham gia hòa giải dựa nhiều vào vai trò của hòa giải viên và đặt niềm tin vào việc hòa giải viên trong việc họ tích cực thu thập thông tin từ các các bên và giữ lại cho riêng mình nhằm sau đó trách nhiệm hòa giải viên là suy nghĩ ra được một hoặc một số giải pháp đề xuất để mọi người đều chấp nhận. Đây là cách thức hòa giải pháp luật cho phép[14], nhưng trong thực tiễn hòa giải thì không khuyến khích vì sự thỏa thuận đạt được (nếu có) không có sự trao đổi thông tin giữa các bên, các ý tưởng, môi trường hòa giải chưa thật sự tạo điều kiện để chính các bên tạo lập lại mối quan hệ, niềm tin lẫn nhau và hướng tới quan hệ tương lai. Đây cũng là yếu tố để phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải được xem là phương thức giải quyết cả hai bên cùng thắng.
Mặt khác, bảo mật thông tin giữa các bên tham gia hòa giải và bên ngoài thủ tục hòa giải là toàn bộ thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải đều phải được giữa bí mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định khác. Như vậy, chúng ta có thể thấy cấp độ bảo mật này thể hiện đặc trưng của hòa giải là giúp các bên bảo vệ uy tín của nhau khi không muốn bất kỳ ai không tham gia thủ tục hòa giải biết được những gì họ đang tranh chấp, nếu đạt thỏa thuận thì là tốt nhưng nếu không thành công thì các bên vẫn có thể tiếp tục tiến hành bước tiếp theo theo quy trình tố tụng Trọng tài hoặc Tòa án.
Ở đây cũng cần chú ý rằng, có hai trường hợp ngoại lệ theo quy định về hòa giải thương mại được tiết lộ thông tin trong quá trình hòa giải là:
Một là, các bên tham gia hòa giải phải có thỏa thuận bằng văn bản cho phép tiết lộ thông tin hòa giải thì điều này thể hiện rằng các thông tin mà các bên có được có thể công bố cho bên thứ ba biết mà không bị ràng buộc về mặt pháp lý. Điều này thể hiện quyền tự thỏa thuận của các bên.
Hai là, thực hiện cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì buộc hòa giải viên và các bên tranh chấp phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho quá trình tố tụng sau đó như: có thể cung cấp cho Tòa án để công nhận hòa giải thành hoặc để tiến hành xét xử trong một vụ án kinh doanh, thương mại khi hòa giải không thành và một bên có yêu cầu khởi kiện.Điều này có liên quan đến quy định của quá trình tố tụng khi giải quyết, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thi thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.[15]
Khi đối chiếu giữa Nghị định về hòa giải thương mại và Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế thì còn thiếu một trường hợp ngoại lệ được cung cấp thông tin làtiết lộ thông tin đó là cần thiết cho việc thực hiện thỏa thuận đạt được sau thủ tục hòa giải.[16] Luật mẫu quy định về trường hợp thứ ba được tiết lộ thông tin trong trường hợp này là nhằm bảo đảm cho kết quả hòa giải được thực hiện. Thiết nghĩ, Nghị định cũng nên quy định cụ thể như Luật mẫu để đảm bảo kết quả hòa giải được thực thi nhanh chóng và không mất thời gian để đạt hiệu quả nhanh nhất.
Tuy nhiên, so với quy định của Quy tắc hòa giải của Uỷ ban pháp luật quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCITRAL) thì việc giữ bí mật thông tin là cả hòa giải viên và các bên có tranh chấp phát sinh cần hòa giải là: Hòa giải viên và các bên phải giữ bí mật mọi vấn đề liên quan đến quá trình hòa giải. Nghĩa vụ này cũng áp dụng đối với thỏa thuận giải quyết tranh chấp, trừ khi việc công bố thông tin là cần thiết nhằm thực hiện và thi hành thỏa thuận đó.[17]
Trong khi quy định các bên phải bảo mật thông tin nhưng trong nghị định không có một định nghĩa cụ thể như thế nào về bảo mật thông tin để các bên biết thực hiện. Thông tin mà các bên cần giữ bí mật trong quá trình giải quyết tranh chấp khi hòa giải. Khi tham chiếu vấn đề này,Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế quy định về giữ bí mật thông tin là:
Mọi thông tin liên quan đến quá trình hòa giải đều phải được giữ bí mật trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác hoặc việc tiết lộ thông tin đó là cần thiết cho việc thực hiện thỏa thuận đạt được sau thủ tục hòa giải.[18]
Theo Luật mẫu của UNCITRAL về hòa giải thương mại và quy tắc hoà giải của một số trung tâm hoà giải, các bên tham gia hoà giải không được cung cấp thông tin trong quá trình hoà giải cho quá trình tố tụng sau đó nhằm thúc đẩy các bên cởi mở, chia sẻ thẳn thắng và xây dựng giải pháp để thúc đẩy hòa giải. Việc cho phép khả năng “tràn” thông tin này có thể làm nản lòng các bên không tích cực nỗ lực để đạt được thỏa thuận hòa giải thành và điều này sẽ làm giảm đi tính hữu hiệu của hòa giải.
Thứ ba, là về nội dung hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạn quyền của bên thứ ba.
Theo quy định thì hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp luật với quy định về việc cấm theo pháp luật thì sẽ quá rộng, bởi vì, hiện có rất nhiều quy định cấm thực hiện một số giao dịch được thể hiện dưới hình thức văn bản dưới luật như pháp lệnh, nghị định, thông tư... Để giải quyết những vấn đề này, nên chăng thay cụm từ “vi phạm điều cấm của pháp luật” thành “vi phạm điều cấm của luật”.
Rõ ràng, quy định “điều cấm của pháp luật” có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với quy định “điều cấm của luật”. “Luật” là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, còn “pháp luật” là toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm cả luật và các văn bản dưới luật (nghị định, thông tư...). Do đó, nếu quy định “điều cấm của pháp luật” thì rủi ro giao dịch dân sự bị vô hiệu, hợp đồng bị tuyên vô hiệu sẽ rất cao và có thể dẫn đến sự tùy tiện. Chưa kể, nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi hành luật lại quy định nhiều điều cấm hơn cả luật, thậm chí “đá” luật, vượt luật.
Hậu quả của giao dịch dân sự hay hợp đồng vô hiệu cũng ảnh hưởng rất lớn đến các bên. Giao dịch dân sự bị vô hiệu thì xem giao dịch đó chưa hề được xác lập và các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận...
Với tinh thần tôn trọng thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, hạn chế việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu quá nhiều, tùy tiện... Vì vậy, cần phải sửa đổi để đảm bảo có tính tiến bộ, hạn chế việc lạm dụng việc ban hành các văn bản pháp luật để hạn chế quyền của công dân và đảm bảo áp dụng thống nhất trong thực tiễn như quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về hiệu lực của giao dịch dân sự là:
Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.[19]
Nguyên tắc còn nêu ra là không được xâm phạm đến quyền của bên thứ ba. Vấn đề đặt ra ở đây hiểu thế nào là “không xâm phạm đến quyền của bên thứ ba” và để đảm bảo quyền lợi của mình thì bên thứ ba sẽ tham gia như thế nào thì ở nghị định chưa đề cập đến và cũng như quy đinh về quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba khi tham gia hòa giải.
Bởi vì, trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp thương mại thì có nhiều quan hệ pháp luật mà quan hệ pháp luật này liên quan đến đương sự này, quan hệ pháp luật khác liên quan đến đương sự khác và việc giải quyết các quan hệ pháp luật đó chỉ liên quan đến các đương sự có mặt không liên quan đến đương sự vắng mặt thì hòa giải viên tiến hành hòa giải những vấn đề liên quan đến đương sự có mặt. Đối với trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau về chuyển giao nghĩa vụ mà bên thứ ba là phải tuân thủ quy định về chuyển giao nghĩa vụ. Điều này có thể dẫn chiếu tại quy định của Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015 về chuyển giao nghĩa vụ thì các bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn với nhân thân của bên nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. Vì vậy, nếu bên thứ ba vắng mặt khi hòa giải thì bên thứ ba có quyền dù các bên có thỏa thuận được với nhau về việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự thì thỏa thuận đó vẫn phải cần có sự đồng ý của người có quyền.
Nhằm đảo bảo tốt hơn việc bảo về quyền và nghĩa vụ hợp pháp của đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sư 2015 cũng đã quy định thành phần là người bảo vệ quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng tham gia phiên hòa giải. Tuy nhiên, ở đây chưa có quy định là sự vắng mặt của người này sẽ gây ra hậu quả pháp lý như thế nào. Như vậy, đây là điều còn trong quy định pháp luật, theo chúng tôi nghĩ thì trong trường hợp này vẫn tiến hành bình thường nếu các bên đồng ý.
Mặt khác, trong quá trình hòa giải thì khi hòa giải viên sau khi làm việc với các bên và các bên giao nộp chứng cứ thì hòa giải viên cần xác được bên thứ ba bị tác động đến bởi quan hệ tranh chấp thì hòa giải viên cần thực hiện như thế nào thì nghị định chưa quy định và việc tiết lộ thông tin tranh chấp có bị ảnh hưởng đến nguyên tắc bảo mật hay không.
6. Kiến nghị hoàn thiện quy định về nguyên tắc hòa giải thương mại
Về nguyên tắc của hòa giải thương mại chúng tôi kiến nghị một số vấn đề sau:
Thứ nhất, nghị định về hòa giải chưa quy định chặt chẽ về việc đảm bảo bí mật thông tin đối với hòa giải viên mà chỉ có là yêu cầu đối với các bên tham gia. Chúng tôi cho rằng tính bảo mật thông tin là điều kiện gần như là tiên quyết đảm bảo đối với hòa giải viên thương mại. Vì vậy, cần bổ sung quy định về bảo mật thông tin trong nguyên tắc hòa giải.
Thứ hai, hoạt động hòa giải là nhấn mạnh vào đối tượng là các bên tranh chấp, mà ở đây trong nguyên tắc chưa thể hiện quy định về sự tự quyết của các bên mà chỉ nói về sự tự nguyện. Bởi vì, khi các bên lựa chọn một phương thức giải quyết bằng hoà giải thì bên thứ ba không thể ép buộc các bên chấp nhận bất kỳ một thoả thuận nào, mà chỉ khi các bên đồng ý thì đó mới được coi là kết quả. Pháp luật cần có quy định rõ ràng hơn các nguyên tắc này để dự phòng trường hợp các quy định pháp luật và thoả thuận không thực sự chi tiết, đầy đủ thì cũng có cơ sở pháp lý để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong hoạt động hoà giải.
Thứ ba, cần sửa đổi quy đinh về việc quy định về “nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật” thành “nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật”, có như thế các bên tranh chấp mới có thể dễ dàng chọn lựa cũng như thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.
Thứ tư, cần quy định rõ thế nào là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba cũng như sự tham gia của người bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quá trình hòa giải thì họ có quyền và nghĩa vụ như thế nào đối với vấn đề bảo mật thông tin liên quan đến tranh chấp.


[1]Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

[2]Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng thuật pháp luật một số nước về hòa giải thương mại, trang 1-2

[3]Tài liệu hội thảo chuyên đề “Bức tranh về hòa giải thương mại - phương pháp giải quyết tranh chấp thay thế hiệu quả tại khu vực Đông Á và vai trò của luật sư trong quy trình hòa giải”, Tp.Hồ Chí Minh, tháng 03/2018, tr 7

[4]Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa, Hà nội, 1999, tr 208-209

[5]Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa & NXB Tư pháp, Hà nội, 2006, tr 365

[6]Nhà pháp luật Việt- Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, NXB Từ điển bách khoa, Hà nội, 2010, tr147

[7]Dương Anh Sơn (chủ biên), Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2016, tr 184-185

[8]Dương Anh Sơn (chủ biên), Luật hợp đồng thương mại quốc tế, sđd, tr 185

[9]Nhà pháp luật Việt-Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, tr 147

[10]Khoản 1 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại

[11]Khoản 5 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại

[12]Khoản 6 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại

[13]Điều 4 Nghị định về Hòa giải thương mại

[14]Khoản 3 Điều 14 Nghị định về hòa giải thương mại

[15]Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

[16]Nhà pháp luật Việt- Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, sđd, tr 151

[17]Nhà pháp luật Việt- Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, sđd, tr 224

[18]Nhà pháp luật Việt- Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, sđd, tr 151

[19]Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015


Mai Hùng Nhân-VKSND Gò Công Đông