Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nguyên đơn dân sự. Tuy nhiên, việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng trên thực tiễn còn gây ra một số nhầm lẫn với các chủ thể tham gia tố tụng khác. Bài viết sau sẽ nêu những đặc điểm cơ bản giúp hiểu rõ hơn về nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự, qua đó giúp cho việc xác định tư cách tham gia tố tụng của những người liên quan được chính xác, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật.
Theo qui định tại Khoản 1, Điều 63 của BLTTHS 2015: “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Để xác định nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự cần phải có điều kiện cần và đủ là: Bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thiếu một trong hai tiêu chí trên thì không được xem là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự.
Nguyên đơn trong vụ án dân sự khác với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự. Trong vụ án dân sự, nguyên đơn là người khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nhưng không phải lúc nào cũng có thiệt hại xảy ra, thiệt hại không chỉ là thiệt hại về vật chất mà còn có những thiệt hại khác và thiệt hại đó không phải do hậu quả hành vi tội phạm gây ra. Còn đối với nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự chỉ có một loại thiệt hại là thiệt hại về vật chất và thiệt hại đó phải là hậu quả gián tiếp của tội phạm gây ra, tức là mục đích của tội phạm không phải là việc gây ra thiệt hại cho nguyên đơn dân sự.
Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu bị can, bị hại hoặc là bị đơn dân sự trong vụ án hình sự bồi thường thiệt hại cho mình.
Ví dụ 1: Tại quán cà phê của A; B đang ngồi uống nước thì thấy C và bạn gái của C, B đã trêu chọc bạn gái của C, sau đó B và C lời qua tiếng lại gây xích mích, B đã dùng bàn ghế để lao đánh C. Sự việc xảy ra khiến C bị thương tích 65% và quán của A bị thiệt hại 5.000.000 vì những bàn ghế B đã làm hỏng. Sau đó, B đã bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích.
Trong vụ án này: B là bị can, C là bị hại còn A là nguyên đơn dân sự. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, A sẽ yêu cầu B bồi thường.
Ví dụ 2: A giao cho B chiếc xe máy để sử dụng, C trộm chiếc xe mà B đang sử dụng. C đã bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản.
Trong vụ án này, C là bị can, B là bị hại còn A là nguyên đơn dân sự. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại A sẽ yêu cầu B bồi thường.
Ví dụ 3: A là mẹ của B(16 tuổi), B không có tài sản. Tại quán cà phê B có lời qua tiếng lại với C dẫn đến đánh nhau tại quán cà phê của E, hậu quả C bị thương tích 55% và gây thiệt hại cho quán cà phê do bàn ghế bị hư hỏng do đánh nhau. Sau đó, B đã bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích.
Trong vụ án này, B là bị can, C là bị hại, E là nguyên đơn dân sự và A là bị đơn dân sự. Khi yêu cầu bồi thường, A có trách nhiệm thay B bồi thường cho E.
Trên đây là những đặc điểm để xác định nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự. Trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiết sót. Rất mong quý bạn đọc góp ý và bổ sung.
Khắc Tín-VKSND thị xã Cai Lậy