1. Thực trạng quy định công nhận kết quả hòa giải thương mại
Tính tới thời điểm hiện tại, phần lớn các tranh chấp thương mại ở Việt Nam được giải quyết bằng phương thức tố tụng Tòa án. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài dù có được sử dụng, nhưng còn hạn chế trong tổng số tranh chấp thương mại. Hòa giải thương mại cũng đã được các bên tranh chấp lựa chọn nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng rất thấp.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đang đặt ra yêu cầu đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án và Trọng tài để giảm tải gánh nặng cho hệ thống Tòa án, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và ổn định, góp phần phát triển kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là hoàn toàn phù hợp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã thể hiện chủ trương “Khuyến khích giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, Trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó[1].
Năm 2015, Chính phủ xây dựng dự thảo Nghị định về hòa giải thương mại. Ngày 24/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại (sau đây gọi là Nghị định về hòa giải thương mại), có hiệu lực thi hành vào ngày 15/4/2017. Theo đó, việc thành lập và hoạt động của các tổ chức hòa giải thương mại được chính thức quy định và hình thành trên thực tế.
Nghị định về hòa giải thương mại quy định: Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp.[2]
Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại bao gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
Các hình thức hòa giải theo pháp luật Việt Nam là:
Hòa giải thương mại theo quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một tổ chức hòa giải thương mại theo quy định của pháp luật và quy tắc hòa giải của tổ chức đó.[3]
Hòa giải thương mại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại vụ việc được các bên lựa chọn tiến hành theo quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên.[4]
Để các bên tranh chấp chọn phương thức hòa giải thương mại trở thành cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức và tin cậy thì việc công nhận và thực thi kết quả hòa giải thành là điều vô cùng quan trọng.
- Về điều kiện công nhận kết quả hòa giải thương mại:
Theo quy định, kết quả hòa giải thành phải lập thành văn bản và có hiệu lực thi hành đối với các bên theo pháp luật dân sự. Nội dung của văn bản hòa giải thành phải bao gồm: căn cứ để tiến hành hòa giải, thông tin cơ bản về các bên, nội dung chủ yếu của vụ việc, thỏa thuận đạt được và các giải pháp thực hiện, các nội dung khác theo thỏa thuận giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật.[5]
Quy định hình thức của kết quả hòa giải thành phải là văn bản có chữ ký của các bên và hòa giải viên thương mại.
Khi các bên ký kết văn bản kết quả hòa giải thành thì Nghị định về hòa giải thương mại không quy định trực tiếp việc thủ tục, trình tự công nhận và thực hiện kết quả hòa giải thành mà dẫn chiếu đến quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra kết quả công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải[6], bên cạnh đó, một thỏa thuận hòa giải được công nhận phải đủ các điều kiện sau:
Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải phải có đủ năng lực hành vi dân sự.
Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.
Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
Nội dung của thỏa thuận hòa giải là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc người thứ ba.[7]
- Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thương mại là:
Thứ nhất, thủ tục nhận đơn và xử lý đơn.
Người có đơn yêu cầu làm đơn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc qua bưu điện hoặc Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành. Người làm đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải phải đầy đủ nội dung là:
Và phải kèm theo văn bản về kết quả hòa giải thành.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu. Việc xem xét công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án do một Thẩm phán giải quyết.
Trong trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định, Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu. Hết thời hạn này mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo đã nộp.
Trường hợp người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ, Thẩm phán thông báo để người có đơn yêu cầu nộp tiền tạm ứng lệ phí. Tòa án thụ lý đơn khi người yêu cầu nộp biên lai thu tiền lệ phí. Nếu như người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí thì Tòa án thụ lý giải quyết kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
Thứ hai, thụ lý đơn yêu cầu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc xét đơn yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp. Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu cầu là 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp.
Thứ ba, tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu quy định cụ thể tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, các đương sự và đề nghị Tòa án công nhận hay không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. [8]
Thứ tư, Thẩm phán ra quyết định.
Hồ sơ yêu cầu giải quyết kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành.[9]
Trường hợp không đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành. Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.
Thứ năm, hiệu lực pháp luật.
Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc xét đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.
Kết quả hòa giải ngoài Tòa án được Tòa án ra quyết định công nhận sẽ được cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
2.Những bất cập của quy định công nhận kết quả hòa giải thương mại:
Một là, quy định hình thức của kết quả hòa giải thành phải là văn bản có chữ ký của các bên và hòa giải viên thương mại. Nhưng trong thực tế, khi các bên đã đạt được kết quả hòa giải thành nhưng vì một lý do nào đó mà một trong các bên không ký vào văn bản kết quả hòa giải thành hoặc hòa giải viên không ký vào được và họ có văn bản chấp thuận kết quả hòa giải thì kết quả hòa giải thành có được xem là hợp pháp không. Mặt khác, hòa giải viên ký vào văn bản kết quả hòa giải thành sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý cho hòa giải viên nếu các bên không thực hiện và điều này có thể dẫn đến việc hòa giải viên bị kiện. Chúng tôi thấy rằng, về việc chấp nhận kết quả hòa giải thành thì việc ký kết vào văn bản kết quả hòa giải thành cần linh hoạt hơn. Để đảm bảo hòa giải là thủ tục nhanh gọn, đơn giản và dễ dàng thực thi.
Hai là, điều kiện để công nhận một thỏa thuận hòa giải được công nhận phải đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhưng khi đối chiếu với Nghị định về hòa giải thương mại thì hai văn bản pháp luật này không có nhiều sự liên hệ với nhau. Cụ thể:
Nghị định về hòa giải thương mại có quy định về hình thức và nội dung của văn bản hòa giải thành nhưng căn cứ để công nhận kết quả hòa giải thành của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không có quy định rõ ràng liên quan đến vấn đề này.
Điều kiện để Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành chỉ bao gồm các điều kiện liên quan đến các bên tranh chấp và bên thứ ba có liên quan mà không có tác định đến hòa giải viên thương mại.
Từ đó thấy rằng, nếu các bên tranh chấp đã đáp ứng đủ điều kiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì việc quy định về điều kiện, tiêu chuẩn hòa giải viên thì Tòa án vẫn công nhận kết quả thỏa thuận hòa giải. [10] Quy định Tòa án công nhận kết quả hòa giải của các bên tranh chấp khi đạt được thỏa thuận, quy định này hợp logic ở chỗ, kết quả hòa giải thành giữa các bên là sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp, cũng như bản chất là một dạng hợp đồng ký kết giữa hai bên, nên hai bên được tự do thỏa thuận, tự quyết định và Tòa án công nhận. Nhưng từ đây thấy sự hạn chế của Nghị định về hòa giải thương mại quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên không còn nhiều ý nghĩa nữa, bởi vì, hòa giải viên được lựa chọn hòa giải đủ tiêu chuẩn hay không đủ tiêu chuẩn cũng không ảnh hưởng tới việc Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành giữa các bên tranh chấp.
Ba là, việc Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thì không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, điều này có thể hiểu rằng việc Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành không có nghĩa là các bên sẽ không được phép thực hiện thỏa thuận và thỏa thuận hòa giải đó không có giá trị, mà việc Tòa án công nhận đi cùng với đó là thực hiện thi hành án sau khi quyết định có hiệu lực. Vì vậy, các bên cần xem xét lý do Tòa án không công nhận kết quả hòa giải, nếu như lý do là dấu hiệu của kết quả hòa giải thành không đủ điều kiện của giao dịch dân sự như: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.[11] và các bên có thể đối chiếu cụ thể đã vi phạm gì trong quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật Dân sự 2015 như: Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức; thì từ đó một trong các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý là kết quả hòa giải thành trước đó sẽ không còn ràng buộc và bắt buộc thi hành nữa.[12]
Bốn là, ở đây thấy rằng pháp luật không quy định riêng về thủ tục công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại mà công nhận chung cho các hòa giải ngoài tố tụng Tòa án. Điều này sẽ dẫn đến kéo dài việc giải quyết tranh chấp cho các bên tranh chấp, làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động thương mại của các bên. Nếu kết quả hòa giải thành là ý chí tự do thỏa thuận giữa các bên và các bên có nghĩa vụ thực hiện nếu đợi Tòa án công nhận mới có giá trị thi hành thì sẽ tạo nên sức nặng pháp lý cho một thỏa thuận và có nguy cơ bị vi phạm nếu có sự can thiệp của Nhà nước vì thời gian bị kéo dài. Nhưng sự công nhận của Tòa án cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các bên khi lựa chọn phương thức này khi giải quyết tranh chấp. Mặt khác, khi Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành thì đây là phương thức giải quyết linh hoạt, thủ tục rất thoáng, không có ràng buộc cho các bên như vậy khi xem xét về phần thủ tục gần như là Tòa án thừa nhận thủ tục tiến hành đúng, nếu Tòa án xem xét về nội dung thì đồng nghĩa là Tòa án xét xử. Quy định này, nếu đem quy chiếu của pháp luật Việt Nam với Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế thì có cái không đồng nhất với nhau. Bởi vì, theo Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế là nếu các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành để giải quyết tranh chấp, thì thỏa thuận hòa giải thành đó có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và có thể đưa ra thi hành. [13] Chúng tôi nghĩ quy định của Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế là hợp lý, và pháp luật về hòa giải nên xem kết quả hòa giải thành như một hợp đồng mới giữa hai bên, các bên tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này. Trường hợp một bên vi phạm hoặc không thực hiện được thì bên kia có quyền khởi kiện như đối với hợp đồng.
3. Kiến nghị hoàn thiện quy định công nhận kết quả hòa giải thương mại
Từ những phân tích trên, đối với quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thương mại, chúng tôi kiến nghị một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần bổ sung thừa nhận kết quả hòa giải thành của các bên là tự động và các bên có nghĩa vụ thực hiện, mà không cần sự công nhận của Tòa án nếu có tranh chấp thì có thể khởi kiện bằng một vụ án.
Thứ hai, cần bổ sung quy định về sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án dân sự đối với việc thực thi kết quả hòa giải thành. Điều này, nhằm nâng cao sự lựa chọn của các bên khi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng như huy động nguồn lực xã hội.
Thứ ba, sau khi có kết quả hòa giải thành các bên có muốn tiến hành thủ tục tố tụng là công nhận thì các bên có thể lựa chọn Tòa án hoặc Trọng tài. Bởi vì, quyết định công nhận hòa giải thành của Tòa án hoặc Trọng tài đều sẽ được hỗ trợ thực hiện bởi cơ quan thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, chủ thể công nhận có thể mở rộng ra và điều này sẽ giảm tải bớt công việc cho Tòa án (hiện nay gần như đang quá tải) cũng như sự giảm thiểu lệ thuộc vào Tòa án, vì Tòa án can thiệp sâu sẽ khó đảm bảo tính linh hoạt của hòa giải.


[1] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

[2] Khoản 1 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại


[3] Khoản 5 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại

[4] Khoản 6 Điều 3 Nghị định về Hòa giải thương mại

[5] Điều 15, Nghị định về Hòa giải thương mại

[6] Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

[7] Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

[8] Xem them Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

[9] Khoản 1, Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

[10] Xem thêm khoản 1 Điều 7 Nghị định về Hòa giải thương mại


[11] Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015

[12] Xem thêm Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật Dân sự 2015

[13] Nhà pháp luật Việt- Pháp, Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và hòa giải thương mại, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà nội, 2010, trang 153
Mai Hùng Nhân - VKSND Gò Công Đông