Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một trong những loại tội phạm xảy ra nhiều trong cơ cấu tội phạm nói chung thời gian qua và ngày có chiều hướng tăng về số vụ, số bị can; tính chất tội phạm ngày càng nguy hiểm hơn, không chỉ gây thiệt hại về sức khỏe mà thậm chí là tính mạng của con người. So với quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) có nhiều điểm mới, tiến bộ. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu cho thấy quy định tại Điều 134 vẫn còn nhiều bất cập như sau:
- Thứ nhất, về tình tiết phạm tội “đối với người chữa bệnh cho mình” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 134.
Bạo hành y tế đang là một vấn nạn của xã hội, nó nghiêm trọng hơn nhiều so với những cuộc ẩu đả, đôi co bình thường trong cuộc sống bởi lẽ việc khám, chữa bệnh là một lĩnh vực vô cùng đặc biệt và quan trọng, có liên quan đến sức khỏe, tính mạng của toàn dân. Khi nạn bạo hành y tế ngày càng gia tăng thì không những nhân viên y tế gặp nguy hiểm mà chính bệnh nhân sẽ là người chịu thiệt hơn cả. Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy đa số các trường hợp hành hung nhân viên y tế đều do người thân của bệnh nhân thực hiện. Do đó, theo quan điểm của tác giả, để để đáp ứng nhu cầu bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe và sự an tâm công tác cho nhân viên y tế cũng như xử lí nghiêm khắc đối với những người có hành vi không đúng mực đối với đội ngũ y, bác sĩ thì quy định trên cần được sửa đổi thành “đối với cán bộ, nhân viên y tế vì lí do khám, chữa bệnh”.
- Thứ hai, về việc chỉ quy định tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 134.
Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015, hai tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” “tái phạm nguy hiểm” chỉ là dấu hiệu định khung tại điểm c, d khoản 2 mà không phải là tình tiết định khung tại khoản 3, khoản 4 và khoản 5 kèm theo tỷ lệ tổn thương cơ thể tương ứng. Như vậy, khi áp dụng vào thực tiễn sẽ phát sinh tình huống một người cố ý gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% mà thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên hoặc tái phạm nguy hiểm thì không bị xét xử theo khoản 3 mà chỉ xét xử theo khoản 2 Điều 134. Trong khi đó, nếu cũng gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 thì sẽ bị xét xử theo khoản 3. Bất cập này xảy ra tương tự với khoản 4 và khoản 5. Cách quy định này cho thấy sự không thống nhất trong kĩ năng lập pháp khiến cho các trường hợp vốn có tính nguy hiểm tương đương nhưng lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự khác nhau. Do đó, BLHS năm 2015 cần bổ sung hai tình tiết này tại các khoản 3, khoản 4 và khoản 5 của Điều 134.
- Thứ ba, về việc chỉ quy định tình tiết định khung “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” tại điểm b khoản 4 Điều 134.
Việc BLHS năm 2015 chỉ quy định tình tiết định khung “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” tại khoản 4 mà không quy định tình tiết này tại khoản 5 với yêu cầu kèm theo các điều kiện sẽ dẫn đến bất cập sau:
Trường hợp 1: A dùng axit nguy hiểm cố ý gây thương tích cho B và C, tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 61%. Do đó, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2015 với khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Trường hợp 2: A cố ý gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của B và C, tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 61%. A chỉ bị truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 với khung hình phạt từ 07 năm đến 14 năm.
Trường hợp 3: A cố ý gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của B, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61%. A cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 với khung hình phạt từ 07 năm đến 14 năm.
Nếu xét về tính chất nguy hiểm của hành vi và mức độ nghiêm trọng của hậu quả thì rõ ràng hành vi của A ở trường hợp 2 có tính nguy hiểm tương đương với trường hợp 1 và nguy hiểm hơn trường hợp 3. Do đó, A nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự cùng một khung hình phạt với trường hợp 1 chứ không phải trường hợp 3. Nhưng vì BLHS năm 2015 không có quy định thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong trường hợp chỉ gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của một người với trường hợp gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của 02 người trở lên nên ở trường hợp 2, không thể truy cứu đối với A theo khung hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, cần bổ sung tại khoản 5 tình tiết “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên” để thống nhất kĩ thuật lập pháp và tạo sự công bằng trong chính sách xử lí tội phạm.
Có thể nói quy định của BLHS năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã có nhiều sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện giúp cho việc thực thi pháp luật được chính xác. Tuy nhiên vẫn còn nhiều quy định như đã đề cập cần được tiếp tục sửa đổi để hoàn thiện hơn. Trên đây là quan điểm của tác giả, mong nhận được sự đóng góp từ quý bạn đọc.
Lưu Thanh Thảo-VKSND thị xã Cai Lậy