Trong thời gian qua, tình hình cho vay lãi nặng (hay còn gọi là tín dụng đen) đang diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi cả nước, phần lớn các đối tượng cho vay lợi dụng hoàn cảnh khó khăn về kinh tế của người dân để cho họ vay các khoản nợ với lãi suất rất cao, dẫn đến nhiều trường hợp mất khả năng trả nợ, thậm chí là phải mất tài sản (nhà cửa, đất đai,… ) gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Mặt khác, trong quá trình thu hồi nợ, người cho vay thường tiến hành nhiều biện pháp khác nhau, thậm chí có nhiều trường hợp có dấu hiệu tội phạm như cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích,…. gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự. Cấp ủy đảng, chính quyền tại các địa phương đều quyết tâm đấu tranh đẩy lùi hành vi này. Tuy nhiên, quy định của pháp luật để xử lý hành vi này còn nhiều bất cập nên việc xử lý của cơ quan chức năng tại các địa phương còn nhiều lúng túng, chưa đáp ứng được yêu cầu chính trị đặt ra.
Tuy Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là BLHS 1999) đã quy định tội “Cho vay lãi nặng” tại điều 163 và Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS) quy định tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tại điều 201 nhưng thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể:
Khoản 1 điều 163 BLHS năm 1999 quy định:
“1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.”
Tuy khoản 1 điều 163 BLHS năm 1999 đã có quy định cụ thể mức lãi suất cho vay đến mức cấu thành tội phạm, nhưng song song đó lại quy định yếu tố “Tính chất chuyên bóc lột”, đây là một yếu tố định tính dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các ngành Trung ương lại không có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn thống nhất. Do đó, đối với các hành vi cho vay lãi nặng xảy ra trước ngày 01/01/2018 thì không có căn cứ để xác định có cấu thành tội phạm hay không, nên chưa xử lý được.
Khoản 1 điều 201 BLHS quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”
Tuy Bộ luật hình sự đã khắc phục được nhược điểm của BLHS năm 1999, các yếu tố cấu thành tội phạm được định lượng rõ ràng. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng tại địa phương vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về cách thức tính số tiền đã thu lợi bất chính. Sau đây tôi xin nêu ra để cùng trao đổi:
Tóm tắt nội dung vụ việc:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến ngày 14/6/2018, nhóm của đối tượng T cho 40 người dân trên địa bàn huyện G vay với 02 hình thức:
Hình thức thứ nhất: Cho vay thu tiền gốc và lãi mỗi ngày. Điển hình: Trong tháng 4/2018 T cho chị C vay 10.000.000 đồng, chị C phải đóng cho T mỗi ngày 400.000 đồng trong vòng 30 ngày, như vậy tổng số tiền T thu lại từ chị C là 12.000.000 đồng, trong đó có 10.000.000 đồng tiền vốn và 2.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 20% tháng (tương đương 240%/năm).
Hình thức thứ hai: Cho vay thu lãi hằng ngày, chưa trả tiền gốc, không xác định kỳ hạn, khi nào trả đủ tiền gốc thì dừng trả lãi vay. Điển hình: trong tháng 3/2018, T cho chị L vay 60.000.000 đồng với lãi suất 0,7% ngày (tương đương 255%/năm), chị L đã trả cho T tiền lãi 14 ngày là 5.880.000 đồng. Chưa trả nợ gốc.
Các vấn đề cần trao đổi:
Đối với mức lãi suất mà nhóm T cho vay khoảng 240%/năm là đã gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS, như vậy yếu tố về lãi suất cho vay đã thỏa mãn quy định tại khoản 1 điều 201 BLHS.
Tuy nhiên, để tính số tiền mà nhóm của T thu lợi bất chính hiện có 02 vấn đề còn có quan điểm khác nhau.
Vấn đế thứ nhất: Với quan điểm tiền thu lợi bất chính được tính bằng tổng số tiền lãi đã thu trừ đi tiền lãi pháp luật cho phép. Tuy nhiên, để xác định tiền lãi pháp luật cho phép là bao nhiêu thì có 02 quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: BLDS quy định lãi suất cho vay không được vượt quá 20% /năm (tương đương 1,67 %/tháng) như vậy, số tiền thu được từ việc cho vay với mức lãi suất cao hơn 1,67% / tháng đã là thu lợi bất chính (ví dụ trường hợp của chị C nêu trên thì với tổng tiền lãi 2.000.000 đồng đã thu được thì tiền lãi pháp luật cho phép là 164.384 đồng, tiền thu lợi bất chính là 1.835.616 đồng).
Quan điểm thứ hai: Tiền thu lợi bất chính được hiểu là tiền thu được từ việc thực hiện hành vi phạm tội, mà để hành vi cấu thành tội phạm thì phải cho vay với mức lãi suất trên 100%/ năm hoặc tương đương 8,35%/tháng, do đó số tiền được coi là thu lợi bất chính phải là số tiền thu được khi cho vay trên 100% năm hoặc 8,35% tháng (ví dụ trường hợp của chị C nêu trên, nếu tính theo quan điểm này, với tổng tiền lãi 2.000.000 đồng đã thu được thì tiền lãi pháp luật cho phép là 834.000 đồng, tiền thu lợi bất chính là 1.116.000 đồng).
Vấn đề này, tôi thống nhất quan điểm thứ 2.
Vấn đề thứ hai: Đối với các trường hợp cho vay tiền góp hàng ngày (cả gốc và lãi), hoặc cho vay thu lãi chưa trả nợ gốc, đến thời điểm hành vi bị phát hiện tổng số tiền nhóm của T đã thu được chưa bằng với số tiền gốc ban đầu bỏ ra cho vay. Ví dụ trường hợp ông H vay số tiền 10.000.000 đồng thỏa thuận góp 30 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng, ông H mới góp được 8 ngày với tổng số tiền là 3.200.000 đồng, hay như trường hợp chị L như đã nêu ở trên vay của T tổng cộng 60.000.000 đồng chị L chỉ trả tiền lãi 14 ngày với số tiền tổng cộng 5.880.000 đồng chưa trả tiền gốc, đến thời điểm hiện tại chị L vẫn chưa trả tiền gốc. Như vậy, các trường hợp này có xác định nhóm của T đã thu lợi hay chưa? Vần đề này có 02 quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Khi cho vay tiền góp như trường hợp của ông H, mặc dù khi cho vay không thỏa thuận trong 400.000 đồng góp mỗi ngày có bao nhiêu là tiền gốc, bao nhiêu là tiền lãi nhưng qua hình thức cho vay thì có thể hiểu tiền gốc và tiền lãi được chia đều trong 30 ngày, như vậy mỗi ngày góp 400.000 đồng thì trong đó có 333.333 đồng là tiền gốc và tiền lãi là 66.666 đồng nhân lên 8 ngày đã góp thì nhóm của T đã thu 533.328 đồng tiền lãi, hoặc như trường hợp của chị L tất cả số tiền 5.880.000 đồng đều là tiền lãi nên nhóm của T cũng đã có thu lợi, (cách tính thu lợi bất chính bao nhiêu thì tính theo cách tính đã nêu ở vấn đề 1). Việc ông H, chị L chưa trả đủ tiền vốn cho T thì T có thể khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Quan điểm thứ hai: Tổng số tiền mà T đã thu lại (không kể là tiền gốc hay tiền lãi) nhưng chưa bằng với số tiền đã bỏ ra cho vay thì chưa thể coi T đã có thu lợi được. T chỉ được coi là đã có thu lợi khi mà số tiền T thu về (cả gốc và lãi) lớn hơn số tiền mà ban đầu T đã bỏ ra để cho vay. Đối chiếu nguyên tắc giải quyết các hợp đồng vay tiền có lãi suất thỏa thuận cao hơn quy định, thì số tiền lãi vượt quy định đã thu sẽ được khấu trừ vào tiền gốc người vay chưa trả, cuối cùng vẫn đảm bảo người vay phải trả đầy đủ nợ gốc cộng với số tiền lãi suất theo quy định. Hơn nữa, việc T có thu lại đủ số tiền gốc ban đầu bỏ ra cho vay hay không là việc phát sinh trong tương lai, hoàn toàn chưa có căn cứ nào để khẳng định là T sẽ thu đủ tiền gốc nên không thể coi là T đã thu lợi. Trường hợp trong vụ án hình sự này (nếu khởi tố xử lý) T tiếp tục yêu cầu ông H và bà L trả nợ cho mình thì Tòa vẫn phải giải quyết và buộc ông H , bà L tiếp tục trả nợ cho T theo nguyên tắc vừa nêu, như vậy trường hợp này T đâu có thu lợi. Hay như trường hợp cho ông H vay tiền hoàn toàn không có thỏa thuận trong 400.000 đồng có bao nhiêu tiền gốc, bao nhiêu tiền lãi, việc xác định thu tiền gốc, tiền lãi này hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của T chứ không mặc nhiên chia đều 30 ngày như quan điểm thứ nhất (T vẫn có thể trình bày thu tiền góp 25 ngày đầu là thu tiền gốc, 5 ngày sau mới là tiền lãi).
Vấn đề này, tôi thống nhất nhóm quan điểm thứ hai.
Từ 02 vấn đề đã nêu trên còn có quan điểm khác nhau, việc xác định tiền thu lợi bất chính theo từng nhóm quan điểm sẽ có sự chênh lệch rất lớn (hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo nhóm quan điểm thứ nhất hoặc hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thứ hai). Nhưng đến thời điểm hiện tại chưa có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn xử lý đối với tội này.
Để góp phần hiệu quả vào cuộc đấu tranh đẩy lùi nạn “tín dụng đen”, phục vụ tốt yêu cầu chính trị địa phương nhưng cũng phải đảm bảo không làm oan người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, rất mong các đồng chí có ý kiến đóng góp, trao đổi để cùng tháo gỡ khó khăn.
Minh Kha - VKSND Gò Công Đông