Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Bất cập của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

  1. #1
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post Bất cập của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

    Theo quy định hiện hành thì quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và tại khoản 2 Điều 213 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội”. Như vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng có vi phạm trong nội dung thỏa thuận, còn nhưng vi phạm khác thì cũng không được kháng nghị. Thực tiễn cho thấy có một số trường hợp Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nhưng lại tính án phí không chính xác, cụ thể như:
    * Vụ thứ nhất: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Quyết định công nhận sự thỏa giữa nguyên đơn Đỗ Ái H và bị đơn Nguyễn Hữu Ngh, ông Nguyễn Hữu Ngh tự nguyện nộp 12.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong đó phần án phí của ông Đỗ Ái H và ông Nguyễn Hữu Ngh mỗi người 6.000.000 đồng. Theo quy định ông Nguyễn Hữu Ngh là thân nhân liệt sĩ được miễn án phí 6.000.000 đồng nhưng ông Nguyễn Hữu Ngh vẫn phải nộp thay cho ông Đỗ Ái H số tiền 6.000.000 đồng. Nhưng Tòa án thị xã A lại miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Hữu Ngh. Trường hợp này đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phn stiền án phí phải nộp thuc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét min án phí đối với phn mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này. Phn án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp”.
    Đối với trường hợp này đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền án phí là 6.000.000 đồng.
    * Tương tự vụ thứ 2: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.G và bị đơn Nguyễn Trung Đ, ông Nguyễn Trung Đ tự nguyện nộp án phí kinh doanh thương mại là 69.835.160 đồng trong đó có phần án phí thuộc trách nhiệm của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.G là 34.917.580 đồng và của ông Nguyễn Trung Đ là 34.917.580 đồng. Theo quy định ông Nguyễn Trung Đ thuộc trường hợp được giảm 50% mức án phí do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên ông Nguyễn Trung Đ phải nộp án phí cho phần của mình là 17.458.790 đồng và án phí 34.917.580 đồng nộp thay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.G. Tổng cộng ông Nguyễn Trung Đ phải nộp án phí là 52.376.370 đồng. Tuy nhiên Tòa án nhân dân thị xã A chỉ buộc ông Nguyễn Trung Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại là 34.917.580 đồng, đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Khoản 3 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: “Trường hp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phn stiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được giảm tiền án phí thì Tòa án chỉ giảm 50% đối với phần án phí mà người thuộc trường hợp được giảm tin án phí phải chịu theo quy định của Nghị quyết này. Phn án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được giảm”.
    Đối với trường hợp này đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền án phí là 17.458.790 đồng.
    Mặc dù Tòa án thị xã A có vi phạm trong việc tính án phí nhưng trong 02 trường hợp trên nhưng theo quy định hiện hành thì không có căn cứ để kháng nghị phúc thẩm hoặc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Đây là một bất cập trong thực tiễn.
    Mong nhận được ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp.
    Thanh Bình
    Viện KSND thị xã Cai Lậy


  2. #2
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post

    Bài viết nêu rõ quan điểm của tác giả Thanh Bình về bất cập trong quy định về hiệu lực thi hành ngay của quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) hiện hành. Dẫn chứng cho quan điểm của mình tác giả cũng nêu lên hai trường hợp cụ thể về vi phạm của Tòa án trong việc tính án phí, tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS thì hai trường hợp này lại không nằm trong những vi phạm có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo tác giả Thanh Bình thì đây là một bất cập trong thực tế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
    Tôi thống nhất quan điểm của tác giả Thanh Bình về việc đây là một dạng vi phạm thường xuyên của Tòa án có thể gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước về khoản thu án phí. Tuy nhiên, trong hai trường hợp tác giả nêu dẫn chứng cũng như các trường hợp Công nhận thỏa thuận khác nếu xét thấy phần Công nhận của Quyết định về những thỏa thuận của các đương sự với nhau là do tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, quyền lợi hợp pháp của các đương sự được đảm bảo thì căn cứ Khoản 2 Điều 213 BLTTDS quyết định này được thi hành ngay, không nằm trong diện bị kháng nghị giám đốc thẩm, đây là một điều hợp lý. Thực chất Điều 213 BLTTDS xuất phát từ tinh thần: Bản chất vụ việc dân sự là sự tự do thỏa thuận, các bên bình đẳng với nhau và tự do xác lập các quyền, nghĩa vụ không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội. Theo đó, việc giải quyết vụ việc này cũng căn cứ vào nguyên tắc đảm bảo tốt nhất cho các quyền lợi hợp pháp của đương sự được thi hành nhanh chóng, giảm bớt gánh nặng kiện tụng và các bên vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp. Do đó, giải quyết tranh chấp dân sự bằng con đường Công nhận thỏa thuận vẫn là cách được hoan nghênh nhất và đây cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản được quy định tại khoản 2 Điều 5 BLTTDS. Vấn đề vi phạm về án phí trong hai trường hợp điển hình trên chỉ là vi phạm chủ quan của thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, vi phạm này có thể được khắc phục thông qua Kiến nghị của Viện kiểm sát, nếu vì vi phạm về án phí mà kháng nghị giám đốc thẩm thì kéo theo đó là một vòng kiện tụng mới mà các bên đương sự phải mất thời gian, công sức theo đuổi thì thật sự chưa cần thiết.
    Phi Yến

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

Cơ quan chủ quản: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang

Địa chỉ: Số 32 Lê Lợi, Phường 1, TP Mỹ Tho, Tiền Giang

Điện thoại: 073.387.4420- Fax: 073.3870328. Website:vkstiengiang.gov.vn