Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 vào ngày 20/6/2017 thì Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) có hiệu thực kể từ ngày 01/01/2018. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được thay đổi khá nhiều góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Trước sự thay đổi đó, tác giả đã nghiên cứu những điểm mới của Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ theo Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 và mối liên hệ với chế định mang thai hộ theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn về tội danh này cũng như giúp quá trình áp dụng pháp luật tại các địa phương được thống nhất.
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại Điều 124 như sau:
“1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Qua quy định của điều luật trước hết ta nhận thấy tên tội danh đã có sự thay đổi từ Tội giết con mới đẻ được quy định tại điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thành tội danh Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy từ một tội độc lập đã thay đổi thành tội danh ghép được quy định thành 2 điều khoản khác nhau.
Việc tách thành hai tội danh “Giết con mới đẻ” và “Vứt bỏ con mới đẻ” dẫn đến quy định dấu hiệu pháp lý của tội danh có sự thay đổi. Đối với “Tội giết con mới đẻ” được quy định tại Điều 94 Bộ luật Hình sự năn 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì đòi hỏi hậu quả bắt buộc là đứa trẻ sinh ra trong phạm vi 07 ngày tuổi phải chết, tuy nhiên tại khoản 1 Điều 124 lại quy định chỉ cần “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi” thì đã cấu thành “tội giết con mới đẻ” mà không cần hậu quả là đứa trẻ đã chết hay chưa chết.
Xuất phát từ việc tách thành 2 tội danh quy định tại 2 điều khoản cũng phân định trách nhiệm hình sự khác nhau thể hiện tính chất mức độ nguy hiểm khác nhau của từng hành vi. Đối với “tội giết con mới đẻ” thì trách nhiệm hình sự đặt ra là “bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” còn đối với “tội vứt bỏ con mới đẻ” thì “bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Ta nhận thấy trách nhiệm hình sự đặt ra đối với người mẹ thực hiện hành vi giết (bóp cổ, bỏ đói cho đến chết,…) là cao hơn so với hành vi vứt bỏ (bỏ vào rừng sâu không có ai qua lại, nhà hoang, thùng rác và đậy nắp,…) dẫn tới đứa trẻ không được ai phát hiện, cứu và bị chết.
Một điểm mới nữa là đối tượng tác động là đứa trẻ sinh ra trong phạm vi 07 ngày tuổi được quy định trực tiếp trong điều luật, trong khi đó Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04 – HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 hướng dẫn về tội giết con mới đẻ như sau: “Con mới đẻ là đứa trẻ mới sinh ra trong bảy ngày trở lại. - Chủ thể của tội phạm này chỉ là người mẹ sinh ra đứa trẻ. Người mẹ này chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (như: khiếp sợ trước dư luận chê bai về việc mang thai và đẻ con ngoài giá thú, hoặc trước dư lận khắc nghiệt của nhà chồng cho đẻ con gái là tai họa v.v…) hoặc bị hoàn cảnh khác quan đặc biệt chi phối (như: đứa trẻ sinh ra có dị dạng…). Người xúi giục bị cáo về tội giết con mới đẻ bị xử lý là đồng phạm tội này”. Quy định như vậy sẽ cụ thể hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan áp dụng pháp luật.
Bên cạnh những điểm mới thì vẫn còn những vướng mắc khi áp dụng là vấn đề mang thai hộ được thừa nhận trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì một đứa trẻ sinh ra không phải là con ruột của người mang thai hộ nếu người này giết đứa bé thì sẽ mang tội giết con mới đẻ hay giết người? Vấn đề này còn nhiều quan điểm nhưng nổi bật là hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: về tội giết con mới đẻ, sở dĩ hình phạt nhẹ là do mối quan hệ đặc biệt giữa người phạm tội và nạn nhân và nguyên nhân chính là do xem xét đến yếu tố tâm, sinh lý đặc thù của người phạm tội, kết quả nghiên cứu và thực tế đã khẳng định phụ nữ sau sinh thường có tâm lý không ổn định, dễ bị tổn thương nên dễ có những hành vi ngoài tầm kiểm soát. Chính vì vậy, mặc dù không phải là mẹ đẻ nhưng người mang thai hộ cũng phải trải qua thời kỳ mang thai và quá trình sinh nở vất vả, căng thẳng và mệt mỏi nên sau khi sinh họ cũng có tâm, sinh lý không ổn định như các bà mẹ bình thường khác. Vì vậy vẫn nên xác định tội giết con mới đẻ đối với người mang thai hộ.
Quan điểm thứ hai: Đã là mang thai hộ mà giết đứa trẻ thì phải là Giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự. Rõ ràng chủ thể của tội Giết con mới đẻ phải là người do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt. Chỉ cần chứng minh người đó không phải do lạc hậu, do hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà dẫn đến giêt đứa trẻ thì là tội Giết người. Mang thai hộ yêu cầu người mang thai phải có trình độ, hiểu biết nhất định cho nên rất khó để nói rằng người này có tư tưởng lạc hậu được.
Đối với người viết, thì thống nhất với quan điểm thứ nhất vì người mẹ mang thai hộ cũng phải trải qua quá trình mang thai, sinh nở vất vả, căng thẳng nên tâm sinh lý cũng không ổn định như những bà mẹ sinh con khác. Vì vậy, cần xem xét hành vi giết con mới đẻ của người mẹ mang thai hộ phạm tội giết con mới đẻ hơn là tội giết người, do khung hình phạt sẽ nhẹ hơn.
Trên đây là những điểm mới và những quan điểm mang tính chất tham khảo, cần thiết phải có những quy định pháp luật cụ thể hơn để giải quyết vướng mắc này.
Trần Thắng - VKSND huyện Cái Bè