Hiện nay, người chấp hành án về án treo, cải tạo không giam giữ ở các địa phương trên toàn quốc chiếm số lượng khá lớn. Riêng trên địa bàn Tiền Giang trong năm 2017 có 565 người chấp hành án treo và 36 người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; 06 tháng đầu năm 2018 là 407 người chấp hành án treo và 29 người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời gian qua, công tác tổ chức việc thi hành đã dần đi vào nề nếp, tạo điều kiện cho người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, người được hưởng án treo thực hiện tốt nghĩa vụ của mình để hoà nhập cộng đồng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và nhà nước trong công tác thi hành án hình sự.
Căn cứ pháp luật của công tác này được quy định cụ thể tại các Điều 36, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 ( gọi tắt BLHS năm 2015); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Mục 1, Mục 3 Chương V của Luật Thi hành án hình sự (THAHS); Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012, Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLTBCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 16/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số văn bản hướng dẫn khác có liên quan. Việc quản lý, tổ chức thi hành đối với người được hưởng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ đều do cơ quan có thẩm quyền, người được giao trách nhiệm và chính quyền địa phương phối hợp thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục, xét miễn, giảm thời hạn chấp hành án, rút ngắn thời gian thử thách và cấp giấy chứng nhận cho họ. Về tổ chức thi hành, tại Khoản 1 Điều 62 Luật THAHS quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo,…đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người được hưởng án treo phải có mặt tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú,… và cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án..”. Và tại Khoản 2 Điều luật này quy định: “ Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người được hưởng án treo…, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, …phải giao hồ sơ thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã,…được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo”.Việc tổ chức thi hành án cải tạo không giam giữ, tại Khoản 1 Điều 73 Luật THAHS quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,…có nhiệm vụ triệu tập người chấp hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người chấp hành án … và cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án..”. Tại Khoản 2 Điều luật này quy định: “ Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, …phải giao hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp xã,..được giao giám sát, giáo dục.”
Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, vấn đề cần đặt ra đó là xem xét việc xoá án tích đối với người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, người được hưởng án treo theo Điều 70 của BLHS 2015. Tại khoản 1 Điều 70 của BLHS 2015: 1.“ Đương nhiên được xoá án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”. Trong thực tế, qua kiểm sát nắm tình hình trong số 565 người và 36 người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (năm 2017) thì có 16 người được hưởng án treo, 05 người chấp hành án cải tạo không giam giữ với nhiều lý do khác nhau mà họ không có mặt tại địa phương để chấp hành án: Do đi làm ăn xa không xin phép hoặc chuyển sang địa giới hành chính khách khác, hoặc khi họ cố ý lẫn tránh việc chấp hành …, nên cơ quan THAHS cấp huyện không thể triệu tập người bị kết án đến cam kết và lập hồ sơ để bàn giao cho UBND cấp xã tổ chức thi hành theo đúng quy định tại Điều 62, Điều 73 của Luật Thi hành án hình sự, hoặc không thực hiện nghĩa vụ công dân của họ theo quy định tại Điều 64, Điều 75 của Luật Thi hành án hình sự; khoản 3, khoản 4 Điều 36, khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015, dẫn đến thời gian thử thách của án treo, thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đã qua, kể cả thời hiệu thi hành án đã hết mà không tổ chức thi hành được.
Đối với người bị phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo thì thời gian xoá án tích là 01 năm, kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung…mà không thực hiện hành vi phạm tội mới ( Điểm a Khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015). Như vậy, trường hợp không chấp hành án nêu trên họ có đương nhiên được xoá án tích hay không, chưa được quy định và có hướng dẫn cụ thể. Do đó, đối với họ cần xác định do lỗi khách quan hay chủ quan của các chủ thể quan hệ pháp luật, như: cơ quan, người có thẩm quyền, chính quyền địa phương trong việc giao trách nhiệm tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục hay lỗi của người chấp hành án, mà xem xét cho họ đương nhiên được xoá án tích.
Với vấn đề nghiên cứu nêu trên, kiến nghị liên ngành Trung ương, cần có chế định, hướng dẫn bổ sung đầy đủ, chặt chẽ, nhằm tránh những kẻ hở trong công tác ở lĩnh vực này, đảm bảo thực thi công bằng quyền và nghĩa vụ giữa người chấp hành án với người không chấp hành án theo Luật Thi hành án hình sự.
Phạm Tấn Hải - VKSND tỉnh Tiền Giang