Ngày 03/02/2018 N.V. Dũng trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện của chị N.L.Y. Ngân, ngụ xã T, TP.M, tài sản mà Dũng chiếm đoạt có giá trị 2.500.000 đồng. Về nhân thân: Tiền sự: không; Tiền án: 03 lần. Cụ thể:
+ Lần 1: Ngày 10/9/2008 bị TAND TP.M xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 BLHS theo bản án số 96/2008/HSST;
+ Lần 2: Ngày 30/9/2008 bị TAND TP.M xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS (được khấu trừ 04 tháng 28 ngày), phải chấp hành hình phạt 03 năm 07 tháng 02 ngày. Đồng thời tổng hợp hình phạt 02 năm tù của bản án số 96/2008/HSST. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 07 tháng 02 ngày tù theo bản án số 121/2008/HSST;
+ Lần 3: Ngày 06/3/2009 bị TAND TP.M xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS. Đồng thời tổng hợp hình phạt 05 năm 07 tháng 02 ngày tù theo bản án số 121/2008/HSST. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 07 tháng 02 ngày tù theo bản án số 24/2009/HSST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 10/12/2015.
Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2018/HS-ST ngày 29/6/2018 của TAND TP.M xét xử: Tuyên bố bị cáo N.V.Dũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bản án còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Như vậy: trường hợp trên TAND TP.M đã xác định bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội cố ý, nên tính lần phạm tội này của bị cáo được xem là “Tái phạm” theo quy định của điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên, quy định của BLHS năm 1999 và năm 2015, về việc xóa án tích cụ thể trong từng điều luật nhưng việc hiểu và vận dụng chưa thống nhất. Đối với trường hợp này tác giả có đưa ra nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Tại khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 quy định: “Người bị kết án không phải về các tội quy định tại các Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn…”. Từ khi chấp hành xong bản án ở đây được hiểu là chấp hành xong tất cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (căn cứ khoản 3 Điều 67 BLHS 1999).
Bản án số 64/2018/HS-ST ngày 29/6/2018 của TAND TP.M nhận định bị cáo N.V.Dũng có 01 tiền án là Bản án số 24/2009/HSST ngày 06/3/2009 của TAND TP.M phạt bị cáo 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, tổng hợp bản án số 96/2008/HSST (mức phạt tù 02 năm), bản án số 121/2008/HSST (mức hình phạt tù 04 năm), thì bị cáo phải chấp hành hình phạt chung hành 07 năm 07 tháng 02 ngày tù, chấp hành xong hình phạt từ ngày 10/12/2015. Như vậy: tại điểm c, khoản 1, Điều 70 BLHS 2015 thì trường hợp nay bị cáo có thời hạn xóa án tích là 03 năm do mức hình phạt phải chấp hành từ 05 đến 15 năm (07 năm 07 tháng 02 ngày), lần phạm tội này của N.V.Dũng được coi là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm thứ hai: theo khoản 1 Điều 70 BLHS 2015 quy định: “Đương nhiên xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”.
Khoản 2 Điều 70 quy định: “Người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau…”.
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 nêu trên, thời hạn để tính đương nhiên xóa án tích được xác định kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án nếu kể từ thời điểm đó đến hết thời hạn quy.
Đối với trường hợp của N.V.Dũng phải áp dụng có lợi cho người phạm tội, trong trường hợp này, căn cứ vào Điều 70 và Điều 73 BLHS 2015 thì thời hạn xóa án tích là “02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm”, thì bản án số 96/2008/HSST (mức phạt tù 02 năm), bản án số 121/2008/HSST (mức hình phạt tù 04 năm) và bản án số 24/2009/HSST (mức phạt từ 02 năm) được coi là đã xóa án tích. Xác định thời hạn xóa án tích cho N.V.Dũng sẽ căn cứ vào từng bản án (Căn cứ vào số năm phạt tù là chỉ xác định đối với hình phạt chính). Vì đối với mỗi loại tội phạm là có mức độ, tính chất khác nhau, việc chấp hành xong bản án phải chấp hành xong bao gồm: Hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
Như vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 (áp dụng có lợi cho người phạm tội), thì chúng ta phải căn cứ vào Điều 70 BLHS 2015 để xác định N.V.Dũng đã được xóa án tích đối với 03 bản án như đã nêu trên. Như vậy: trường hợp trên TAND TP.M đã xác định bị cáo chưa được xóa án, nên tính bị cáo “Tái phạm” là chưa phù hợp quy định của pháp luật.
Qua công tác thực tiễn thấy rằng, có những quan điểm vẫn còn trái chiều, có nhiều cách hiểu khác nhau gây ra những bất cập, khó khăn cho công tác xét xử.Vì vậy, nên hiểu như thế nào để việc nhận thức về cách tính mức hình phạt chung đã tổng hợp hay căn cứ vào hình phạt chính của mỗi bản án riêng cụ thể để tính thời hạn xóa án tích cho đúng và thống nhất.
Rất vui khi nhận được ý kiến đóng góp từ quí đồng nghiệp, bạn đọc.
Trọng Lễ - VKSND tỉnh Tiền Giang