Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Bàn về thời điểm phát sinh tư cách bị can

  1. #1
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post Bàn về thời điểm phát sinh tư cách bị can

    Theo Điều 179 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì phần lớn các trường hợp khởi tố bị can do Cơ quan điều tra thực hiện, quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát phê chuẩn. Khoản 3 Điều 179 của BLTTHS quy định: Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
    Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can”.
    Điều đáng lưu ý là, tại Khoản 1 Điều 183 của BLTTHSquy định: “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”. Điều này có nghĩa, biện pháp điều tra đối với bị can được thực hiện trước khi quyết định khởi tố bị can được Viện kiểm sát phê chuẩn.
    Với những quy định như trên, thực tiễn thi hành pháp luật đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất xung quanh tư cách tố tụng của bị can được xác định từ thời điểm nào cho đầy đủ và chính xác, xác lập từ khi có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra hay từ khi có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát.
    1. Quan điểm thứ nhất: là khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
    Căn cứ vào khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.” Có nghĩa là sau khi Cơ quan điều tra có quyết định khởi tố bị can, mặc dù chưa có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng quyết định đó đã phát sinh hiệu lực pháp luật.Trên thực tế, nhiều trường hợp quyết định đó đã được tống đạt cho bị can và Điều tra viên đã tiến hành hỏi cung bị can theo quy định tại Điều 183BLTTHS “Việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”. Và khi so sánh giữa Khoản 1 Điều 183 BLTTHS và Khoản 3 Điều 179 BLTTHS “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này và tài liệu có liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.” Thì có thể thấy việc dùng từ “ngay” đối với việc hỏi cung lần đầu là cấp thiết,vì khi đó những lời khai mà bị can cung cấp sẽ là tài liệu có giá trị cao để Viện kiểm sát có thể xem xét, nghiên cứu phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cũng như là chứng cứ vững chắc phục vụ cho việc truy tố sau này. Theo ý kiến chủ quan của Tác giả, tư cách bị can hình thành khi chỉ cần có quyết định khởi tố bi can của Cơ quan điều tra và quyết định phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát chỉ là sự khẳng định việc khởi tố bị can tiếp tục có hiệu lực hay bị chấm dứt hiệu lực.Trên thực tế trước khi Cơ quan điều tra khởi tố bị can thì giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Cơ quan điều tra cũng đã thu thập tương đối đầy đủ các lời khai của nhưng người liên quan, chứng cứ,… và cũng đảm bảo cơ sở để khởi tố bị can và trong giai đoạn này Viện kiểm sát cũng đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát của mình thì việc thay đổi tư cách tố tụng chuyển từ nghi can sang bị can chỉ là việc có thể áp dụng các biện pháp theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự với tư cách là bị can.
    2. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, một người được coi là bị can khi người đó hội đủ hai điều kiện cần và đủ:
    - Điều kiện thứ nhất “Điều kiện cần”: Là người đó đã có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điềutra.
    - Điều kiện thứ hai “Điều kiện đủ”: Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.
    Quan điểm này lý giải, theo quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTHS thì quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp xét phê chuẩn. Do đó, Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng các biện pháp theo trình tự, thủ tục tố tụng đối với một người được coi là bị can khi quyết định khởi tố đã được Viện kiểm sát phê chuẩn. Mặt khác, nếu Cơ quan điều tra lại có quyền thực hiện việc hỏi cung bị can, một biện pháp để điều tra vụ án. Điều này có thể dẫn đến tình trạng là trong thời hạn gửi quyết định khởi tố bị can và tài liệu đến Viện kiểm sát để đề nghị xem xét quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra đã có thể thực hiện những việc hỏi cung bị can trong điều kiện thiếu cơ chế kiểm soát tính hợp pháp của hoạt động đó, nhất là những trường hợp bị can là những người yếu thế trong xã hội (không thể tự bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình). Điều này có thể gây ra những bất lợi về nhiều mặt. Ví dụ, bị can sau này khai là trong thời gian đó mình bị bức cung, mớm cung... nhưng không tự chứng minh được việc đó.
    Trong quá trình nghiên cứu, thể hiện quan điểm của cá nhân không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong bạn đọc bổ sung và đóng góp.
    Khắc Tín-VKSND thị xã Cai Lậy
    Sửa lần cuối bởi TKTP&CNTT; 28-08-2018 lúc 09:53 AM.

  2. #2
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post

    Theo tác giả Khắc Tín: Quyết định khởi tố bị can đó đã có hiệu lực mà không cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Xin trích dẫn một đoạn của bài viết:
    “theo quy định tại Điều 183 BLTTHS “Việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”. Và khi so sánh giữa Khoản 1 Điều 183 BLTTHS và Khoản 3 Điều 179 BLTTHS “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này và tài liệu có liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.” Thì có thể thấy việc dùng từ “ngay” đối với việc hỏi cung lần đầu là cấp thiết, vì khi đó những lời khai mà bị can cung cấp sẽ là tài liệu có giá trị cao để Viện kiểm sát có thể xem xét, nghiên cứu phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cũng như là chứng cứ vững chắc phục vụ cho việc truy tố sau này.”
    Qua nghiên cứu tôi nhận thấy quan điểm thứ hai về thời điểm phát sinh tư cách bị can là sau khi có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát là đúng, vì những điểm sau:
    Thứ nhất: Ý nghĩa của từ “Phê chuẩn”
    - Theo từ điển tiếng Việt. “Phê chuẩn” là một động từ được hiểu là người hoặc cấp có thẩm quyền xem xét và đồng ý thông qua (cho thi hành) những văn bản, dự thảo, v.v…
    - Theo giải thích của Luật, căn cứ Khoản 8 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế “Phê chuẩn là hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thực hiện để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
    Từ việc giải thích từ ngữ trên chúng ta có thể hiểu nghĩa của từ “Phê chuẩn” trong Quyết định phê chuẩn khởi tố bị can của Viện kiểm sát là hành động pháp lý đồng ý cho thông qua (thi hành) Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra.
    Thứ hai: Giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
    Có thể thấy rằng thời điểm giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can rất quan trọng vì khi đó người bị khởi tố sẽ được thông báo về quyền, nghĩa vụ của mình với tư cách là bị can. Theo Chương XI “Khởi tố bị can và hỏi cung bị can” của Bộ luật tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì có 02 vị trí nằm trong Điều 179 và Điều 183 BLTTHS quy định về thời điểm giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
    1. Khoản 5 Điều 179 BLTTHS “Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.”
    Phân tích Khoản 5 Điều 179 BLTTHS có thể thấy khi Cơ quan điều tra nhận một trong hai “Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can” hoặc “Quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát” thì Cơ quan điều tra phải giao ngay “Quyết định khởi tố bị can” (của Cơ quan điều tra hoặc của Viện kiểm sát) và “Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can” (nếu quyết định khởi tố bị can là của Cơ quan điều tra), ngay sau đó phải tiến hành giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can. Qua đó có thể thấy rằng thời điểm phát sinh tư cách bị can là khi nhận cả hai Quyết định khởi tố bị can và Quyết đinh phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc chỉ nhận quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát. Điều đó chứng minh cho quan điểm thứ hai về thời điểm tư cách bị can chỉ hình thành khi bị can nhận được Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát.
    2. Khoản 2 Điều 183 BLTTHS “Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.” (Điều 60 quy định về Bị can, quyền và nghĩa vụ bị can).
    Tại khoản này quy định việc giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can được thực hiện trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, theo đó hỏi cung lần đầu quy định tại Khoản 1 Điều 183 BLTTHS “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”.
    Vấn đề đặt ra ở đây là “Quyết định khởi tố bị can” đó đã được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát hay chưa?
    - Vận dụng về việc định nghĩa của động từ “Phê chuẩn” để lý giải cho việc Khoản 2 Điều 183 BLTTHS quy định về việc phải giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can, vì chỉ khi hành động pháp lý phê chuẩn được thực hiện thì Điều tra viên mới tiến hành giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can. Từ đó suy ra, Quyết định khởi tố bị can được nhắc tới tại Khoản 1 Điều 183 BLTTHS là quyết định đã được phê chuẩn bởi Viện kiểm sát.
    - Mặt khác, Chúng ta biết rằng Bộ luật tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
    Việc sắp xếp các Điều, Khoản trong Bộ luật cũng sẽ theo một trình tự, thời gian hợp lý để Bộ luật có thể áp dụng vào thực tế. Tại Chương XI “Khởi tố bị can và hỏi cung bị can” sắp xếp các điều khoản theo thứ tự như sau:
    Điều 179. Khởi tố bị can
    Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
    Điều 181. Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm
    Điều 182. Triệu tập bị can
    Điều 183. Hỏi cung bị can
    Điều 184. Biên bản hỏi cung bị can
    Nếu lý giải theo cách như vậy thì ta sẽ có một trình tự thủ tục tổng quát từ khi khởi tố cho đến khi hỏi cung như sau:
    Quyết định khởi tố bị can, Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can (Giao quyết định, giải thích quyền và nghĩa vụ) – Triệu tập bị can – (Giải thích quyền và nghĩa vụ ) Hỏi cung bị can. Như vậy việc giao quyết định và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can sẽ tiến hành sau khi có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát và trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu. Vì vây, tại Khoản 1 Điều 183 BLTTHS “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can” phải được hiểu là Quyết định khởi tố bị can đó đã có hiệu lực tức là đã được phê chuẩn của Viện kiểm sát.
    Từ việc giải thích về vị trí của việc giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can tại (1) và (2) có thể thấy về mối liên hệ thì 02 (hai) điều luật này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về thời gian và trình tự áp dụng pháp luật, đây là quan hệ lệ thuộc với nhau, quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra có hiệu lực pháp luật khi đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, khi đó người bị khởi tố mới chính thức được xác định tư cách tham gia tố tụng là bị can trong vụ án hình sự; cùng thời điểm này Điều tra viên mới được tiến hành hỏi cung, có trách nhiệm giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can theo quy định tại Điều 60 Bộ luật TTHS.
    Trên đây là những phản biện về quan điểm Thời điểm phát sinh tư cách bị can của tác giả Khắc Tín. Theo tôi, thời điểm phát sinh tư cách bị can bắt đầu từ khi người bị khởi tố nhận Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và được giải thích về quyền, nghĩa vụ của bị can.
    Trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiết sót. Rất mong quý bạn đọc góp ý và bổ sung.
    Trà My-VKSND thị xã Cai Lậy

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

Cơ quan chủ quản: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang

Địa chỉ: Số 32 Lê Lợi, Phường 1, TP Mỹ Tho, Tiền Giang

Điện thoại: 073.387.4420- Fax: 073.3870328. Website:vkstiengiang.gov.vn