Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Tòa án ra quyết định thu thập chứng cứ hay ban hành công văn đề nghị đối với Tòa án cấp trên

  1. #1
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post Tòa án ra quyết định thu thập chứng cứ hay ban hành công văn đề nghị đối với Tòa án cấp trên

    Để có cơ sở Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, nhưng trong thực tế không phải lúc nào mọi chứng cứ, tài liệu đương sự cũng có thể tự mình thu thập được. Do vậy, theo quy định tại khoản 7 Điều 70 và điểm e khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định đương sự có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà mình không thể thực hiện được. Sau khi nhận được đơn yêu cầu, nếu xét thấy có căn cứ Tòa án sẽ tiến hành thu thập theo quy điểm g khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nếu cơ quan mà Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ, tài liệu là Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp dưới sẽ ra Quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ theo Mẫu số 12-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) hay chỉ ban hành công văn đề nghị cung cấp tài liệu, chứng cứ là được, quá trình thực hiện đã có phát sinh trường hợp này.Để làm rõ vấn đề trên, tác giả xin nêu một vụ tranh chấp kinh doanh thương mại cụ thể. Ngày 09/3/2018 Công ty TNHH thương mại xây dựng X kiện Công ty cổ phần xây dựng Y thanh toán số tiền đã xây dựng giao khoán còn nợ là 500.000.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện C. Trong quá trình thụ lý giải quyết, ngày 22/5/2018 Công ty X có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ đối với vụ tranh chấp nêu trên, vì hiện Tòa án nhân dân tỉnh T đang giữ hồ sơ mà bản thân Công ty không tự thu thập được (do Tòa án nhân dân tỉnh T đã xử phúc thẩm trong một vụ án kinh doanh thương mại khác trước đó, có liên quan đến Công ty Y). Trên cơ sở đó, ngày 05/6/2018 Tòa án nhân dân huyện C ban hành công văn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh T cung cấp các tài liệu theo yêu cầu của Công ty X. Do hết thời hạn chuẩn bị xét xử (đã có gia hạn) nên Tòa án huyện C căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định Tạm đình chỉ vụ án với lý do “Cần đợi cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án”. Sau khi nhận được quyết định tạm đình chỉ, phía Công ty Y cho rằng quyết định không xác định thời gian tạm đình sẽ gây nhiều khó khăn trở ngại trong hoạt động kinh doanh của Công ty mình. Vì trước đó, theo yêu cầu của Công ty X Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng đối với Công ty Y nên Công ty có đơn đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị phúc thẩm quyết định tạm đình chỉ. Do vậy, Viện kiểm sát huyện C yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để xem xét kháng nghị theo thẩm quyền.Qua nghiên cứu hồ sơ nêu trên, nhận thấy việc Công ty X không tự mình thu thập được chứng cứ nên yêu cầu Tòa án thu thập là phù hợp theo quy định tại khoản 7 Điều 70; điểm e khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi nhận được đơn yêu cầu Tòa án cũng đã tiến hành thu thập theo đúng quy điểm g khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng lại ban hành công văn là không phù hợp theo luật định. Bởi lẽ, trong trường hợp này Tòa án huyện C phải ban hành quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ theo Mẫu số 12-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) mới chính xác. Vì Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành gồm 93 biểu mẫu để áp dụng đúng và thống nhất biểu mẫu trong tố tụng dân sự. Các biểu mẫu này được áp dụng chung, quá trình thực hiện không có loại trừ cơ quan, tổ chức nào trong từng trường hợp cụ thể, cho dù là cơ quan cấp trên của mình. Ngoài ra, ngày 28/7/2017 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 155/TANDTC-PC về việc áp dụng thống nhất về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản tố tụng, trong đó yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình áp dụng phải thực hiện đúng và thống nhất biểu mẫu trong tố tụng dân sự được quy định trong Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP.Trở lại vụ án nêu trên, nếu Tòa án ra quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ theo Mẫu số 12-DS sẽ được vận dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự, có quy định thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ là 15 ngày sau khi nhận được yêu cầu nên cơ quan được yêu cầu sẽ thực hiện ngay. Khi nhận được tài liệu, chứng cứ như đã yêu cầu thì Tòa án sẽ phục hồi tiếp tục giải quyết vụ án. Trong khi đó, Tòa án chỉ ban hành công văn nên không thể hiện được thời gian cung cấp là bao lâu, do đó cơ quan được yêu cầu có thể không đảm bảo thời hạn thực hiện được 15 ngày như trong quyết định, vụ án sẽ chậm được phục hồi, kéo dài gây bức xúc cho đương sự. Thực tế trong vụ tranh chấp điển hình trên, sau khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thì phía Công ty Y cũng đã có đơn đề nghị kháng nghị phúc thẩm. Theo tác giả, việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ, nên không có cơ sở để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Đối với việc không ra quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ theo Mẫu số 12-DS mà ban hành công văn thì Viện kiểm sát cùng cấp chỉ ban hành kiến nghị là được, để Tòa án sẽ khắc phục trong những trường hợp tương tự về sau. Thông qua bài viết này, tác giả rất mong nhận được sự trao đổi của quý đồng nghiệp.
    Tống Nhân - VKSND thành phố Mỹ Tho

  2. #2
    Biên tập viên TKTP&CNTT's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    128

    Post

    Tác giả Tống Nhân nêu ra tình huống một vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: ngày 09/3/2018 Công ty TNHH thương mại xây dựng X kiện Công ty cổ phần xây dựng Y thanh toán số tiền đã xây dựng là 500.000.000 đồng tại TAND huyện C. Trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết, do vụ án đang tranh chấp có liên quan chứng cứ với một vụ án kinh doanh thương mại khác mà TAND tỉnh T đã xử phúc thẩm xong và đang lưu giữ hồ sơ, phiá công ty X không thể tự mình thu thập chứng cứ được. Căn cứ vào khoản 7 Điều 70, điểm e khoản 1 Điều 97 BLTTDS 2015 quy định về quyền đề nghị tòa án thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự thu thập chứng cứ được, ngày 22/5/2018 công ty X có đơn yêu cầu TAND huyện C thu thập chứng cứ nêu trên. Vấn đề phát sinh là, thay vì khi nhận được đơn yêu cầu thu thập chứng cứ của đương sự, Tòa án huyện C ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ theo mẫu số 12 –DS ban hành kèm theo Nghị Quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao) thì Tòa án huyện C lại ban hành Công văn đề nghị TAND tỉnh T cung cấp tài liệu theo yêu cầu của Công ty X. Mẫu số 12 –DS Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ có quy định thời hạn cung cấp tài liệu chứng cứ của cơ quan, tổ chức là 15 ngày, nên việc tòa án huyện C ban hành văn bản không đúng biểu mẫu thủ tục tố tụng như trên đã dẫn đến hậu quả không quy định thời hạn cung cấp chứng cứ, do đó, đã quá thời hạn 15 ngày, kể cả thời hạn gia hạn xét xử theo luật định nhưng Tòa án tỉnh T vẫn chưa cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của tòa án huyện C. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS, tòa án huyện C ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án với lý do” Cần đợi cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án”. Theo công ty Y thì việc tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ trên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của công ty Y, bởi vì, trong quá trình giải quyết vụ án, trước đó, theo yêu cầu của Công ty X, tòa án huyện C đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa tài sản tại Ngân hàng đối với Công ty Y nên Công ty Y có đơn đề nghị VKS cùng cấp kháng nghị phúc thẩm Quyết định tạm đình chỉ trên.
    Đồng thời, tác giả Tống Nhân đưa ra quan điểm giải quyết tình huống trên là do Quyết định tạm đình chỉ trên đúng điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS nên không có cơ sở để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Đối với việc tòa án ban hành văn bản không đúng biểu mẩu số 12 như đã trình bày ở trên, VKS cùng cấp chỉ ban hành kiến nghị để tòa án khắc phục trong trường hợp tương tự về sau.
    Sau khi nghiên cứu vấn đề, người viết có một số vấn đề cần trao đổi với tác giả Tống Nhân sau đây. Theo quan điểm người viết, thống nhất với tác giả Tống Nhân là trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, việc tòa án vi phạm biểu mẫu tố tụng là vi phạm ít nghiêm trọng về hình thức nên VKS chỉ tập hợp kiến nghị. Tuy nhiên, đối với trường hợp này, tuy bước đầu tòa án chỉ vi phạm về hình thức ban hành văn bản tố tụng không đúng biểu mẫu, nhưng hậu quả pháp lý của việc vi phạm hình thức này không dừng lại ở thủ tục, mà nó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng của Công ty Y, khi mà hệ quả của Công văn yêu cầu cung cấp chứng cứ không quy định thời hạn nên tòa án phải tiếp tục ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án mà Quyết định tạm đình chỉ vụ án cũng không có thời hạn tiếp tục giải quyết vụ án cụ thể. Sau khi nghiên cứu bài viết, tác giả có 02 vấn đề cần trao đổi với tác giả Tống Nhân như sau:
    Nếu bàn ở góc độ khoa học pháp lý của vấn đề, thì căn cứ vào quy định tại Khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015 quy định về nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên có quyền yêu cầu tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định tại khoản 6, Điều 97 BLTTDS. Do đó, để đảm bảo quyền lợi đương sự và thực hiện đúng chức năng VKS, VKS cùng cấp cần thiết vận dụng Khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015 để ra văn bản yêu cầu Tòa án thực hiện việc ra Quyêt định thu thập chứng cứ theo quy định BLTTDS, đồng thời tập hợp vi phạm trên để kiến nghị tổng hợp.
    Bàn về hướng giải quyết vụ án, nhận thấy, tuy lý do tòa án ban hành Quyết định tạm đình chỉ này là không vi phạm, nhưng xét về trình tự, thủ tục ban hành thì rõ ràng Quyết định tạm đình chỉ vụ án này chính là hệ quả của sự việc trước đó tòa án huyện C đã vi phạm thủ tục tố tụng khi ban hành Công văn đề nghị TAND tỉnh T cung cấp tài liệu theo yêu cầu của Công ty X như đã lập luận trên, làm ảnh thưởng đến thời gian giải quyết vụ án và ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của Công ty Y. Do đó, xét về bản chất, Quyết định tạm đình chỉ này cũng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Mặt khác, cần nhận thức về hiệu lực pháp lý của mẫu Quyết định yêu cầu thu thập chứng cứ (mẫu số12-DS) ban hành kèm theo Nghị Quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao ban hành, đây là biểu mẫu tố tụng hiện hành có chế tài nghiêm khắc được áp dụng tại hệ thống Tòa án nhân dân khi giải quyết các tranh chấp dân sự. Điều 2 mẫu số 12-DS nêu cụ thể thời hạn cung cấp chứng cứ là 15 ngày, trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thì phải thông báo bằng văn bản và ghi rõ lý do cho tòa án biết, trường hợp không thực hiện yêu cầu của tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, với qui định nêu trên của Mẫu tố tụng số 12- DS sau 15 ngày thời hạn yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, Tòa án thụ lý vụ án mới có cơ sở pháp lý để tạm đình chỉ vụ án (trong trường hợp bên được yêu cầu có văn bản thông báo lý do không cung cấp được). Do đó, Quyết định Tạm đình chỉ vụ án dựa vào hệ quả không rõ ràng của một Công văn đề nghị cung cấp tài liệu (loại văn bản pháp luật không qui định) là vi phạm nghiêm trọng. Theo quan điểm người viết, trong trường hợp này, căn cứ vào khoản 5 Điều 215, khoản 2 Điều 280 BLTTDS, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày VKS cấp sơ thẩm nhận được Quyết định tạm đình chỉ, VKS cấp sơ thẩm phải ban hành kháng nghị phúc thẩm theo hướng hủy Quyết định tạm đình chỉ trên.
    Trên đây là một số vấn đề trao đổi cùng tác giả Tống Nhân.
    Hoàng Nga - VKSND tỉnh Tiền Giang

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

Cơ quan chủ quản: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang

Địa chỉ: Số 32 Lê Lợi, Phường 1, TP Mỹ Tho, Tiền Giang

Điện thoại: 073.387.4420- Fax: 073.3870328. Website:vkstiengiang.gov.vn